Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019

Trần Thanh Giao - Như cánh hạc bay

Cái tin ông ra đi vào ngày 10 Tháng Chạp khiến tôi bị bất ngờ. Tôi không thể tin nổi một cái cây cổ thụ đã đổ xuống, vận vào lời Thôi Hiệu, Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản (Hạc vàng một đi không trở lại), bài thơ sinh thời Trần Thanh Giao hằng yêu thích và lấy đó làm dấu tích của cuốn tiểu luận phê bình cuối cùng, dồn tụ nhiều tâm huyết…
Nhà văn Trần Thanh Giao (bên phải) và nhà thơ Bùi Tuyết Mai

1. Dẫu biết quy luật một đời người cuối cùng rồi cũng phải trở về với cát bụi, nhưng cái tin nhà văn Trần Thanh Giao quy tiên đối với tôi vẫn là quá đột ngột. Tôi không thể tin được cây đại thụ của văn nghệ, báo chí Việt Nam đã giã biệt cõi đời này. Tôi cảm thấy ông vẫn còn đấy. Con người ông nhỏ thó và rắn rỏi, khuôn mặt với những nếp nhăn của thời gian và tuổi tác vẫn không giấu được đôi mắt tinh anh, ánh nhìn nhạy bén cùng với nét cười răng khuyết rất đặc biệt. Vẫn là người đàn ông mà sự hiểu biết toát ra từ ánh nhìn ban đầu bạn tiếp xúc đến giọng nói chậm rãi, giàu trải nghiệm, cẩn trọng trong từng câu chữ và luôn luôn hài hòa, với phong thái lịch thiệp của một người đã kinh qua Tây học.

Nhớ lần đầu gặp ông vào năm 1996 tại Hà Nội, hai năm trước khi tôi được là đại biểu Hội nghị Những người viết văn Trẻ toàn quốc lần thứ V (1998). Chúng tôi cùng uống trà ở một tiệm trà thanh lịch, nằm khá sâu trong một cái ngõ nhỏ, gần với hồ Trúc Bạch. Trước đó, tôi đã đọc khá nhiều tác phẩm của ông. Lúc bấy giờ, ngồi trước mặt tôi đích thực là nhà văn Trần Thanh Giao bằng xương bằng thịt, và chúng tôi bàn về những bài báo, bài ký, tiểu luận hoặc phê bình văn chương Đông, Tây, kim, cổ của ông. Văn của ông thật rất ăn khớp với người. Giọng cười của ông cũng thật đa dạng, lúc thì mủ mỉ kín đáo, lúc lại cao hứng như thác nước đổ.

2. Trong những tranh luận bên ly trà của chúng tôi, có khi cứ trở đi, trở lại vấn đề “nóng” của đời sống văn nghệ: Để có tác phẩm hay. Tôi nhớ những đúc kết của ông đọng lại. Người-Văn ấy đã tìm thấy ngọc và lấy đó làm ánh sáng để soi chiếu vào những trang viết của mình, và cũng để phần nào giúp cho những người bạn văn cùng chia sẻ, bàn luận và lựa chọn cho mình một hướng đi:

- Dẫu biết văn chương là để giãi bày nỗi niềm, số phận, thu hút sự ham mê của người đọc, nhưng giãi bày để làm gì, câu trả lời là để nâng đỡ con người, làm cho nó cao thượng lên chứ không làm cho nó hèn đi, thấp đi.

- Nỗi niềm và số phận của một kiếp người có hàng ngàn, hàng vạn, vẽ ra được đã là khéo, nhưng tư tưởng nhân văn của tác phẩm về những nỗi niềm và số phận, mới là cái khó tìm, khó vẽ, mới là cái có giá trị nhất trong văn chương.

- Vẽ mây, vẽ gió được đã khéo, nhưng vẽ cho đến mức Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay như Nguyễn Trãi mới thật khó, mới thật hay, mới là nét vẽ của bậc thiên tài. Cho nên từ xưa, hiện nay và sau này vẫn vậy, văn chương hay, nhất là văn xuôi, không thể chỉ có nỗi niềm và số phận, mà trên nỗi niềm và số phận là một tư tưởng nhân văn sâu sắc, và những vẻ đẹp làm mê mẩn lòng người.

- Đã đến lúc cùng nhau nêu ra định nghĩa: tác phẩm hay là tác phẩm làm rung động sâu sắc, lâu bền trái tim người thưởng thức vì những giá trị chân thiện mỹ mà nó chứa đựng.

Năm 2015, ngay trong Đại hội Nhà văn, tôi nhận được món quà quý của ông. Đó là cuốn Tiểu luận phê bình của Trần Thanh Giao, Cánh hạc & Tiếng chuông, Nxb Hội Nhà văn, 2014. Bìa phụ là dòng chữ bút mực còn tươi rói, ông đề Thân tặng Bùi Tuyết Mai và cẩn thận ghi Hà nội 2015 rồi ký tên. Cùng với cuốn sách là một chiếc đồng hồ nữ mạ vàng rất đẹp, rất thanh lịch, viền kim loại màu vàng, mặt và dây đeo màu đỏ nâu tía, lấp lánh ánh bạc ẩn phía trong khung kim giây chạy, là tháp Effel. “Anh mua nó trong một chuyến thăm Thủ đô Paris, nước Pháp. Tặng em!” Tối hôm đó, rất khuya, sau khi ngồi cùng cánh nhà văn trẻ từ miền núi phía Bắc, tôi mới lần giở từng trang cuốn cảo thơm này của người bạn vong niên. Tôi đã thức luôn đến sáng với cuốn sách, tìm thấy trong đó những ký ức về cuộc trao đổi của chủ nhân cuốn sách với mình từ thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, hiện cũng nằm trong cuốn sách.

Cuốn sách này của ông, tôi luôn luôn mang theo để đọc mỗi khi có thì giờ. Và chiếc đồng hồ ấy, cũng trở thành vật bất ly thân của tôi, kể từ khi ông tặng.

3. Ông đặc biệt yêu thích cuốn Mái Tây của Vương Thực Phủ. Lại nhớ, một dịp ông ra Hà Nội họp, chúng tôi có hai ngày đi lên Mường. Đi lên tỉnh Hòa Bình, một địa danh nổi tiếng của người Việt cổ, với ông đây là một dịp “rất đáng để tiêu thời gian vào đó!”. Chúng tôi đi đại tứ Mường: Nhất Bi (huyện Tân Lạc), nhì Vang (huyện Lạc Sơn), tam Thàng (huyện Kỳ Sơn và Cao Phong), tứ Động (huyện Kim Bôi), bốn vùng Mường cổ nhất, lớn nhất của Việt Nam tại tỉnh Hòa Bình. Cũng trong chuyến đi này, tôi được biết cái bút danh Song Văn của anh là do anh rất yêu thích Mái Tây của Vương Thực Phủ mà ra. Ông khuyên tôi nên đọc cuốn ấy, vì cái kịch ấy cũng đã hay, nhưng lời bình của Kim Thánh Thán sau mỗi chương là những chỉ dẫn vô cùng hữu ích cho những người viết văn có tài năng - những người “thợ trời”.
Nhà văn Trần Thanh Giao (bên phải) vànhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ

4. Mỗi lần tôi có tác phẩm được đăng Báo Văn Nghệ, hoặc trên các diễn đàn, ông đều đọc thấy và là người cho nhận xét. Chúng tôi có những người bạn chung, một trong số họ là nhạc sĩ tài danh Nguyễn Tài Tuệ. Lần gặp gỡ gần đây nhất của chúng tôi cũng tại Đại hội Nhà văn (2015). Buổi tối, chúng tôi đến thăm nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ tại nhà riêng, phố Khương Trung, Hà Nội. Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy hai ông già ôm nhau một cách vô cùng mừng rỡ và đằm.

Hóa ra, họ từng quen và dõi theo nhau từ năm 1976. Khi ấy, nhà báo Trần Thanh Giao đã gặp và phỏng vấn nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, Trưởng phòng Nghệ thuật của Đoàn Ca Múa Nhạc Việt Nam, nhân dịp nhạc sĩ đưa đoàn văn nghệ sĩ, diễn viên vào Thành phố Hồ Chí Minh biểu diễn mừng một năm thắng lợi, non sông thu về một mối.

Hai ông đều thuộc hàng “Tây học trong nước lớp đầu” từ trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Trần Thanh Giao học ở Cần Thơ, Nguyễn Tài Tuệ học ở Sài Gòn. Cả hai đều phát âm và dùng rất chính xác văn phạm tiếng Pháp, nhưng lại rất thống nhất với nhau về quan điểm, quan niệm sáng tác. Do có công cụ ngôn ngữ tiếng Pháp trong tay, đồng thời lại có vốn cha mẹ để lại là chữ Hán và chữ Nôm, cả hai có điều kiện để tìm đọc sâu, học hỏi kỹ các giá trị văn học và âm nhạc của phương Đông, phương Tây. Trong cuộc gặp gỡ hiếm hoi ấy, tôi đã được nghe tiểu kết của Trần Thanh Giao: Nếu như cái thuyết cốt lõi của văn học phương Tây là chủ nghĩa nhân văn (humanisme; humanism) thì trong thơ văn Việt Nam có thuyết “nhân nghĩa” (humanité et loyauté; bennevolence and righteousness) đồng thời được bổ sung thêm các giá trị nhân bản khác.

Nếu cứ dõi theo hệ thống các tác phẩm của Trần Thanh Giao - Dòng sữa (truyện ngắn, 1962); - Đi tìm ngọc (truyện 1964, 1972, 1987, 2002); - Cầu sáng tiểu thuyết 1976, 1985); - Đất mới vỡ (tiểu thuyết 1978, 1981); - Giữa hai làn nước (truyện 1979); - Sao Mai gần gũi (truyện và ký 1983); - Một vùng sông nước (truyện 1985); - Thị trấn giữa rừng Sác (bút ký 1985); - Bầu trời thềm lục địa (bút ký 1986); - Câu chuyện một chiều thứ bảy (truyện ngắn 1987); - Một thời dang dở (tiểu thuyết 1988, 1992); - Thời áo trắng (tiểu thuyết 1995, 2002); - Tuyển tập truyện ngắn (2002); - Ai vượt Cửu Long Giang (bút ký 2003); - Ai tri âm đó… (phê bình, tiểu luận, 2003), - Văn học TP.HCM 1975 – 2005 (nghiên cứu, khảo luận…, 2008), - Chuông chùa (truyện ngắn 2011); - Cánh hạc & Tiếng chuông (phê bình, tiểu luận, 2014)… Đồng thời, cũng luôn luôn nghe vang lên trên làn sóng các phương tiện đại chúng những tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc của Nguyễn Tài Tuệ (trên 30 tác phẩm) thắm đượm chất trữ tình và nhân văn được phát triển từ âm nhạc dân gian Việt Nam đi rất xa…  có thể thấy rất rõ ý thức, trách nhiệm sâu sắc của họ với đất nước, với dân tộc. Tôi vẫn nhớ, Trần Thanh Giao đã nhấn mạnh với Nguyễn Tài Tuệ trong buổi tối đáng ghi nhớ ấy: Trong các tác phẩm thanh nhạc của anh, tôi thấy những bán cung, nửa cung lẽ ra là rất Tây, vậy mà anh đưa vào cứ ngọt và vô cùng thuần Việt trongMùa xuân gọi bạn, Suối mường Hum còn chảy mãi, Xa khơi, Mơ quê, trong Tiếng hát giữa rừng Pác Bó v.v.. Có cả câuxuống xề của cải lương trong Xôn xao bến nước nữa! Rồi những bản Rondo sonata, concerto, operette, v.v.. của ông đậm đà chất nhạc Việt. Tóm lại, nếu nói cách tân về hình thức thì cha ông ta cũng đã làm nhiều, và làm thành công… Nếu ta đừng sùng ngoại, đừng hám của lạ, tự hào về cha ông mình thì ta cũng có thể nêu ra “luận thuyết”, đóng góp vào những thuyết chung, có ích cho sự phát triển nhận thức của con người về bản chất của văn học nghệ thuật và cuộc sống.

Trần Thanh Giao, Nguyễn Tài Tuệ và tôi, cả ba cùng yêu thích Chức cẩm hồi văn của Tô Huệ, một tác phẩm thơ “siêu hình thức” cách nay đã hơn 2000 năm. Rồi tiếp sau đó, là những kiệt tác nhân loại như Iliade, Odyssée, cùng với các tác phẩm của những tác gia hàng đầu của nhân loại như Shakespeare, Cervantes, Dante, Goethe, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… Để qua việc đọc những kiệt tác đó mà bồi đắp chiều sâu nội lực cho mình trong sáng tạo và tiếp nhận những giá trị mới của văn học nghệ thuật.     

5. Cái tin ông ra đi vào ngày 10 Tháng Chạp khiến tôi bị bất ngờ. Tôi không thể tin nổi một cái cây cổ thụ đã đổ xuống, vận vào lời Thôi Hiệu, Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản (Hạc vàng một đi không trở lại), bài thơ sinh thời Trần Thanh Giao hằng yêu thích và lấy đó làm dấu tích của cuốn tiểu luận phê bình cuối cùng, dồn tụ nhiều tâm huyết. Một khoảng trống của văn đàn không bù đắp được. Tuy biết từ nay tôi sẽ không bao giờ nhận được những dòng cảm xúc tươi rói của ông qua email nữa. Tôi vẫn thấy nụ cười trẻ trung của ông. Sự nhiệt tâm xốc vác. Ông vẫn như còn đó, với ba lô, laptop và máy ảnh, sẵn sàng cho một chuyến đi mới.

Hà Nội, những ngày áp Tết Bính Thân 2016
 BÙI TUYẾT MAI
Theo NVTPHCM



Thương nhớ 'ông già Nam bộ' Trần Kim Trắc

Sáng 4.1, khi gia đình làm lễ cúng 49 ngày cho nhà văn Trần Kim Trắc tại một ngôi chùa ở Q.3, TP.HCM thì thông tin ông mất mới được xác nhận làm bất ngờ giới văn chương và độc giả yêu mến ông. Cuộc ra đi của một nhà văn “ở ẩn thị thành'' cũng lặng lẽ đúng như tính cách...
Nhà văn Trần Kim Trắc

Sống chính là đang viết...

Cùng với những cây bút thương hiệu của văn chương phương Nam như: Sơn Nam, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng... nhà văn Trần Kim Trắc (hội viên Hội Nhà văn VN và Hội Nhà văn TP.HCM) được xem là một cây đại thụ của văn học Nam bộ.

Ông sinh năm 1929 tại Chợ Gạo (Tiền Giang) rồi lên sinh sống tại Sài Gòn. Ngoài tên thật, nhà văn còn có các bút danh là NT và Trần Kim. Truyện ngắn Cái lu của ông từng đoạt Giải thưởng Hội Văn nghệ VN (1945 - 1954). Mặc dù có một thời gian dài gián đoạn việc viết lách do phải đi làm trái nghề để mưu sinh: thợ sơn tràng (khai thác gỗ), phu bốc vác, làm ruộng, chế biến thực phẩm và cuối cùng là nuôi ong lấy mật... nhưng khi trở lại với văn chương thì chính những trải nghiệm của cuộc sống vất vả khiến ông có một bút lực tràn trề. Hàng loạt tác phẩm tiếp nối nhau ra đời: Cái bót (truyện ngắn, in chung 1989), Con cá bặt tăm (truyện ngắn, in chung 1990), Ông Thiềm Thừ (truyện ngắn 1994), Hoàng đế ướt long bào (tiểu thuyết 1996), Học trò già, Trăng đẹp mình trăng (truyện ngắn 1997), Con trai ông tướng (truyện ngắn 1998), Chuyện nàng Mimô (truyện ngắn 1999), Lý lắc Nam bộ (tản văn 2015)... đã nói lên sức viết mạnh mẽ của nhà văn.

Ông từng đoạt nhiều giải thưởng uy tín về văn học nghệ thuật: Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Con người và cuộc sống hôm nay do Hội Nhà văn TP.HCM và Báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chức năm 2012, tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn VN năm 1995 với tập Ông Thiềm Thừ. Đặc biệt, truyện Ừ, đi, ừ được Sân khấu Hoàng Thái Thanh chuyển thể thành vở kịch Sài Gòn có một ngã tư diễn từ tết năm 2018 cho đến nay vẫn thu hút người xem.

Tổng biên tập - Giám đốc NXB Trẻ Nguyễn Minh Nhựt cho biết: “Chúng tôi luôn trân trọng những cây đa cây đề như Sơn Nam, Toan Ánh, Trang Thế Hy và Trần Kim Trắc. Vì vậy, mà tự NXB chủ động đến tận nhà riêng gặp, trình bày ý nguyện muốn mua các tác phẩm của ông trọn đời và được đồng ý ngay chứ ông cũng không tìm đến đâu. Cảm động là ông luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, khiêm tốn và vui vẻ. Ông nói tưởng sách in xong rồi thì thôi, giờ in lại nữa thì thích quá. Nhà văn chẳng quan tâm nhiều đến tiền bạc mà nghe sách đến được nhiều người đọc là mừng rồi. Ông già lớn tuổi nhưng viết về giới trẻ rất hay, nhất là chuyện tình cảm tình yêu thì vô cùng sâu sắc”.

Còn nhà thơ Trần Hoàng Nhân thì không thể nào quên những kỷ niệm với “Ông già Nam bộ”. “Trong khi mọi người gặp nhau hay nói chuyện huyên thuyên thì nhà văn ngồi im ru, nghe xong rồi tủm tỉm cười. Có lúc tôi buột miệng hỏi: “Cuộc đời này ông nghiệm ra điều gì?”. Ổng trả lời: “Tôi học được một câu trong Truyện Kiều là Chữ tài chữ mệnh, khéo là ghét nhau và một câu trong Lục Vân Tiên: Nực cười hai chữ nhân tình éo le là đủ rồi”. Tôi nghĩ cuộc đời ông Trần Kim Trắc có nhiều cái để mình học hỏi: khiêm tốn, sâu sắc. Tôi nhớ nhà văn có câu nói rất hay “tôi đang sống tức là tôi đang viết”, chứ không phải “tôi đang viết tức là tôi đang sống” như quan niệm của một số nhà văn hiện nay đâu, nên dù có lúc hơn 30 năm ông ngưng viết nhưng khi cầm bút lại thì sáng tác rất hay là vì thế…”, Trần Hoàng Nhân chia sẻ.

Nhớ mãi ông già lý lắc nam bộ

Anh Võ Anh Tuấn - cháu ruột của nhà văn Trần Kim Trắc cho biết: “Ngày 10.11.2018, ông bị suy hô hấp nặng. Tới trưa 17.11.2018, bệnh tình trở nên nguy kịch, ông phải thở bằng máy cho đến 16 giờ 30 chiều thì ông đi. Vì quá neo người, chỉ có cậu ruột ở ngoài Bắc vào phụ, ngày hôm sau lại đúng đám cưới của tôi nữa nên gia đình tiến hành khâm liệm ông ngay tại bệnh viện. Hôm sau tôi đưa ông đi hỏa thiêu rồi gửi vào chùa theo đúng ý nguyện của ông là không muốn làm gì rình rang…”. Theo anh Võ Anh Tuấn, hiện tro cốt của nhà văn Trần Kim Trắc đang được gửi tại chùa Hưng Phước (Q.3, TP.HCM).

Nhiều văn nghệ sĩ bày tỏ nỗi thương tiếc và đau buồn trước sự ra đi đột ngột của nhà văn Trần Kim Trắc. Nhà thơ Lê Minh Quốc bày tỏ tình cảm thương nhớ “ông già” Lý lắc Nam bộ - như tên tập tản văn của Trần Kim Trắc, khi nhắc đến sự gần gũi chân thành của ông. “Tôi nhớ mỗi khi ra tác phẩm mới, nhà văn không nề hà mang sách đến tận cơ quan ký tặng khiến tôi thực sự cảm động. Là nhà văn lớn thuộc thế hệ đàn anh đi trước nhưng ông cư xử với thế hệ sau rất gần gũi và trân trọng, đó là điều thật đáng quý… Một nhà văn Nam bộ có đặc điểm độc đáo là kể chuyện thời kháng chiến rất hay và dí dỏm đã không còn hiện diện trên cõi đời này nữa. Nhớ ông quá...”, nhà thơ bùi ngùi.

LÊ CÔNG SƠN
Theo Thanh Niên



Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

Nhà văn Trần Nhã Thụy: Làm thơ tặng vợ rồi về… nấu cơm

Được độc giả biết đến với những tập truyện ngắn, tản văn đặc sắc, và một vài tiểu thuyết gây được tiếng vang, đã chuyển thể thành phim nhưng với nhiều anh em làm báo Sài Gòn, nhà văn Trần Nhã Thụy lại là người thích làm thơ, có những câu thơ rất hay, rất thú. Đặc biệt, anh thường làm nhiều thơ về vợ, người phụ nữ quê đất võ Bình Định nhưng rất dịu dàng. Người phụ nữ không chỉ là một nửa cuộc đời mà còn mang đến hạnh phúc cả phần đời còn lại cho anh, cùng hai cậu con trai kháu khỉnh và một gia đình hạnh phúc, để anh mặc sức “ngoại tình” với chữ nghĩa đêm đêm.
Gia đình nhà văn Trần Nhã Thuỵ

Gã giang hồ mê chơi nhưng… nhớ nhà

Như lần làm thơ về vợ, Trần Nhã Thụy đã viết thế này, “Cùng nhau một chặng đường trần/Mình đưa tay nắm những lần ngã đau/Đắng cay nuốt đã nhiều rồi/Thì thôi nước chảy qua cầu ngày xanh”. Dường như, với một người viết văn như anh, những câu thơ chân thành và đắm đượm nhất chính là thơ về vợ, người đã gắn bó với anh từ những ngày mới chân ướt chân ráo mưu sinh ở mảnh đất phồn hoa này. Dù chưa từng kể hết những cơ cực trên đường đời nhưng tôi phần nào hiểu được hoàn cảnh của đôi vợ chồng trẻ ấy. Sống bằng ngòi bút cả nghĩa bóng và nghĩa đen, nuôi hai con nhỏ, ở trong một căn phòng thuê lợp tôn đâu đó ngoại thành. Dần dần, anh chị mua đất, rồi dựng nhà và hồi cuối năm ngoái, căn nhà lại được hoàn chỉnh cho ngăn lắp, to đẹp hơn một chút nữa để những ngày hè oi bức, anh không phải ở trần trên gác viết văn mà mồ hôi lẫm chẫm như chính Trần Nhã Thụy từng tâm sự đâu đó. Có lẽ, thời gian nhiều năm ấy, với vô vàn khó khăn mà những người tỉnh lẻ lập nghiệp ở thành phố phải đổi mặt, nếu không có sự cảm thông, chia sẻ, gắng gượng thì tình yêu không thể nào dìu dắt người ta bước tiếp được. Và, sau nhiều những cay đắng nuốt sâu vào trong lòng ấy, anh chị càng hiểu, càng yêu và thương nhau hơn.

Nhưng, làm người cầm bút anh ý thức rằng. Cuộc sống dù cay đắng hay hạnh phúc thì vẫn phải sống, mà còn cố gắng sống tốt hơn. Vì vậy, anh chọn cách mỉm cười với tất cả mọi thứ, với thơ và đời. Như anh từng viết: Chiều chiều vo gạo nấu cơm/Ngồi trong xó bếp nghe thơm nỗi buồn. Có lẽ, đó là câu thơ tự đáy lòng, thốt chân thực về cảm xúc của anh. Như lần anh bật lên, sau những buổi sáng tập thể dục ở con đường nhỏ trước nhà. Người ta đi Mỹ đi Tàu/Còn mình quanh quẩn cái cầu Gò Dưa. Những câu thơ của Trần Nhã Thụy không nhiều, không cầu kỳ bóng bẩy nhưng cứ làm người ta nhớ mãi, ám ảnh như uống ly cà phê thơm ở một góc quán thơ mộng đâu đó không bao giờ quên. Và khá đặc biệt, bạn bè chỉ đọc thơ anh ở trang facebook cá nhân chứ ít bao giờ anh đưa lên báo, ngoài một lần các đồng nghiệp cũ ở tờ Tuổi Trẻ in một chùm giới thiệu mà thôi.

Thú thật, tôi ít thấy ai tài hoa mà lại chung thủy như anh. Có lẽ đó là cách để anh giữ gìn cuộc sống hôn nhân gia đình. Và thật kỳ lạ, không biết đùa hay thật nhưng dù là người am tường khá nhiều lĩnh vực, Trần Nhã Thụy bảo anh không biết dùng thẻ…ATM, nghĩa là tiền trong tài khoản tất cả đều do vợ giữ, bạn bè các báo chi trả nhuận bút, lương thưởng anh đều không biết. Hỏi thêm, anh cười hóm hỉnh, mình thì được vợ nuôi, tiền ăn sáng, ăn trưa hay cà phê đều có vợ đưa cho mỗi ngày mà chiều chiều lại đón con về ăn cơm vợ nữa thì cần chi tiền? Vậy mà lần nào ngồi nhậu với anh em, bè bạn, khi tính tiền thì anh đều giành trả, bảo mình…mới có tiền!

Cách đây ít bữa, trong dịp đại hội nhà văn thành phố, Trần Nhã Thụy được đông đảo đồng nghiệp tín nhiệm bầu làm Trưởng ban kiểm tra Hội Nhà văn TP HCM. Anh bảo, mình cả đời ở nhà cơm canh, làm ô-sin cho vợ con thì nay lại được làm ô-sin cho anh em trong hội, không biết có mấy năm tới, có làm được gì cho mọi người không. Hình như, sâu thẳm trong anh, cái chức danh ấy là vì bạn bè, vì anh em tình nghĩa nên Trần Nhã Thụy nhận lời chứ với anh, nó không phải là mục đích của người cầm bút.

Chiều nay ngồi rót quê nhà vào ly

Tôi quen anh cũng qua những bài báo. Dần dà, anh em không hẹn nhưng thi thoảng vẫn ngồi bên nhau, ở một quán quen bên bờ kênh Nhiêu Lộc, lặng lẽ nhìn dòng nước phía xa xa, ngắm con kênh từng trong xanh, rồi ngầu đục và lại trong xanh, như những thăng trầm hưng thịnh của thành phố non trẻ này. Cũng như tôi, dù có một căn nhà, một gia đình lẫn cuộc sống khá ổn định giữa Sài Gòn nhưng trong anh chưa bao giờ thôi khắc khoải về nỗi nhớ quê, vùng đất Quảng Ngãi nắng gió sinh ra, nuôi dưỡng anh suốt một tuổi thơ khốn khó. Anh vẫn kể, mình đam mê nhiều thứ. Đó không phải là tính cách mà phần nhiều do đòi hỏi của công việc khiến anh luôn tỉ mỉ, cặn kẽ tất cả những gì mình đặt bút viết, dù là một cái tản văn nho nhỏ in báo hay một cuốn tiểu thuyết vài trăm trang giấy. Ví như viết về người chơi đàn, anh kỳ công quan sát, học hỏi cách chơi đàn. Có khi anh tới tận xưởng đàn, tìm hiểu và chơi thử. Rồi viết về những người đi hát, anh cũng kỳ công vào quán karaoke nghe hát, cảm nhận bằng tất cả cơ học của giọng hát chứ không đơn thuần là âm điệu. Đó không chỉ đơn giản là sự đam mê, là tinh thần trách nhiệm, là hứng thú với trang viết của mình mà hơn tất thảy, với Trần Nhã Thụy, đó là trách nhiệm của mình với con chữ, với độc giả mỗi khi đặt bút trước trang giấy.

Với những người làm báo trẻ có chút nấn níu với văn chương ở thành phố này, nhiều người coi Trần Nhã Thụy là người anh trong cuộc sống, người thầy trong cầm bút và đối thủ trên…bàn nhậu. Dường như, trong làm báo, viết văn hay đời thực, anh đều để lại những ấn tượng khá riêng với người đối diện. Một nét riêng lặng lẽ, trầm trầm của người đã trải qua nhiều biến cố cuộc đời. Anh kể, mình làm báo đã hơn hai mươi năm, kinh qua nhiều cơ quan nhưng phần vì cái cái tôi quá lớn, phần nữa có khi chẳng vì lý do gì khiến anh ít khi nào trụ lâu ở một nơi nhất định, dù nghề báo đã nuôi sống anh, và gia đình lẫn cả văn chương. Vài năm trở lại đây, anh làm trưởng đại diện cho một tờ báo thị trường khá lớn nhưng ít người biết. Ai hỏi, anh bảo mình chỉ là “thằng viết dạo”, rồi cười. Có lẽ, Trần Nhã Thụy là vậy, anh ít khi nhận về mình những xưng danh, chức tước mà cứ vui vẻ ngước nhìn cuộc đời, như một đứa trẻ tò mò muốn tìm những trái chín trên cao vậy. Cái tâm thế luôn hàm ơn tất thảy mọi thứ xung quanh mình của người thành danh cùng văn chương nhưng dường như lại đi bên lề văn chương khiến Trần Nhã Thụy lúc nào cũng thong thả, thảnh thơi và ít bị cuốn vào vòng phù hoa ảo vọng. Anh viết nhiều, mà thật lạ là lại ít kỳ vọng, chả ham nổi tiếng. Đôi lần ngồi cà phê, tôi vẫn cười. Người như anh, văn như anh, đất Sài Gòn giờ hiếm lắm. Hiếm bởi cái tình với anh em, với đồng nghiệp khi văn chương đang ngày một mất đi tính nhân bản vốn có của nó, là làm đẹp cho cuộc đời. Ngay chính nhiều người cầm bút đang hằn học, đua ganh với nhau. Sống với đồng loại nhiều người còn ác lắm, cầm bút mà làm gì?

Rồi, như trong một lần tâm sự rất thật với chính mình và bè bạn, anh viết “Đời tôi là những vỉa hè/Cà phê cà pháo ngồi nghe chuyện đời”. Nếu biết nhiều về anh, có lẽ ai cũng hiểu điều này bởi sau hơn 20 năm cầm bút ở Sài Gòn, anh đã quá am hiểu, tường tận con người và vùng đất này. Tuy nhiên, điều băn khoăn nhất trong cuộc đời Trần Nhã Thụy vẫn là quê nhà. Và ước mơ ám ảnh anh, lại là sau này được về quê, được sống giữa một vùng tuổi thơ, trong căn nhà có mấy câu cau khẳng khiu mà năm nào cũng trĩu quả, có đồng lúa xanh xanh trước cửa mà lần nào về quê cũng đương thì con gái… Thế nên, anh viết “Bạn bè dăm đứa bôn ba/ Chiều nay ngồi rót quê nhà vào ly”.

ĐOÀN ĐẠI TRÍ
Theo Tinh hoa Việt



Ngô Thuý Nga & Nốt lặng ưu tư của người thơ trẻ

Vừa rồi Ngô Thuý Nga tặng tôi tập thơ vừa mới in xong. Đây là lần đầu tiên tôi đọc Ngô Thuý Nga qua Nốt lặng (NXB Hội Nhà văn TP.HCM 2015) của nhà thơ trẻ này vốn trước đây được biết đến là cây bút viết văn xuôi.
Nhà thơ Ngô Thuý Nga

Phải nói rằng Nốt lặng là tập thơ về những thân phận, tâm tư, cảnh đời có những điều gì đó của lãng mạn trêu đùa tình yêu cứ trôi qua đời con gái của mình hay của ai đó mà người viết bày tỏ sự tình. Ngôn ngữ của Ngô Thuý Nga trong tập thơ này nó lãng du và bồng bềnh cảm xúc:

Cũng chỉ là nốt lặng tuổi hai mươi
Cũng chỉ là những cào xé trong lòng người con gái
Mang những nỗi niềm đi hoang
Mang những rỗng rễnh cuộc đời về làm nơi nương tựa
Bởi đứng đâu cũng thấy mình thừa

                                    (Thơ tặng người dung)

Nhà thơ đã đốt cháy nỗi niềm trong sự tuột tay và chỉ có người dưng ấy mới được tặng cái phần quà của nỗi đau rồi cũng nhạt ở người con gái. Thân phận và nỗi niềm hoang hoải là nốt lặng buồn, đã cào xé trong tâm can đày đọa. Sao người dưng lại làm khổ nhau thế nhỉ?

Ngồi trên vũng nắng chớm đông
Gió xõa tóc lên chiều rũ rượi
Em đưa bàn tay hong mùa
Sờ lên trái tim chông chênh nỗi nhớ
                         
           (Quên cài cửa vô thường)
    
Thế mà câu thơ vẫn chông chênh nỗi nhớ, quả là điều kỳ lạ trong yêu đương. Ngô Thuý Nga đã sử dụng ngôn ngữ của người trẻ đương đại viết lên hoàn cảnh chiều rũ rượi, trong tâm tư nghĩ về phía ấy mà không ủy mỵ. Với tình yêu ngày nay và cách gieo lên những con chữ thực tiễn đời thường, mà người đọc và viết lớp đi trước chưa có được:

Có đôi lần anh vén váy em làm gối
Ngủ vùi sau cơn say hư ảo đời người
Đêm vẫn ngọt
Anh vẫn say
Em đi về rất vội

            (Phố núi ngọt)
 
Tập thơ Nốt lặng của Ngô Thuý Nga

Nếu có thì rất ít, mà họ vẫn đắn đo cho tròn trĩnh ngôn từ. Người trẻ bây giờ đã xa đi những ràng buộc của niêm luật thường tình, tìm đến cái mới lạ nhưng vẫn rất thơ:

Đàn bà có khi như cơn bão
Cuồng điên xé lòng mình đổi lấy an nhiên cho những điều không thật
Cấu rách bản năng để nắm tay người chơi trò cút bắt
Già mất một cuộc tình vừa bắt đầu những vết son

                                      (Ngược sáng)

Hình như thơ Ngô Thuý Nga trong Nốt lặng là những mất mát trong tâm hồn người con gái như lời ru buồn cứ chực chờ vỡ òa ở con tim bé nhỏ:

Ta lặng im bên nhau
Em trệu trạo nhai bóng đêm đổ ập bên song cửa
Đáy mắt anh rơi giữa khoảng trống hai chỗ ngồi chưa kịp ấm
Ta trầm ngâm
Nghe thinh không vỡ òa

Em cởi áo mình trả áo cho anh…

                       (Trả áo cho anh)
     
Nỗi buồn ấy còn thể hiện ở những bài thơ như Giấc mơ không màu: “Người đàn ông có dĩ vãng già nua /Có muôn ngàn mặt nạ khiến em nhìn vào đâu cũng thấy mình như vỡ”; rồi: Em lật tung ký ức tìm một cái ôm dài/ Chỉ nhìn thấy khoảng trống mênh mông còn sót lại (Nhặt mưa làm nước mắt); và:

Cắn đôi sợi tóc sót lại trên gối
Mới biết mình ảo vọng
Giữa nỗi buồn màu huyết dụ bẻ cong. 

                   (Nỗi buồn màu huyết dụ)
  
Không thể kể hết nỗi niềm trong Nốt lặng của nhà thơ được. Hình như nhà thơ đã và đang trải qua nỗi niềm trước sóng gió cuộc đời mà âm điệu, cấu tứ của những bài thơ cứ canh cánh một nét buồn rong ruổi.

Em hoang vỡ chỗ nằm thiếu bóng anh thao thức
Chiếc chăn bông chẳng ấm nỗi đêm dài

                                        (Cho anh)

Đọc Nốt lặng của Ngô Thuý Nga ta thấy một nỗi ưu tư của người thơ trẻ, như thấy cái vô tư buồn của yêu đương lứa đôi mà nhận cho riêng mình nốt lặng cuộc đời. Nốt lặng của Ngô Thuý Nga là cung trầm của đời sống yêu thương với bút pháp dìu dặt và những cái mới của ngôn ngữ, thi ảnh, làm nên một nét riêng của cô. Nốt lặng cũng nên dừng ở đây vì lẽ đời cần nhiều niềm vui và hạnh phúc và biết cất đi nỗi buồn. Có lẽ mai sau đọc Ngô Thuý Nga, tôi hy vọng niềm vui sẽ được nhân lên bởi những nốt son dịu vợi đang chờ phía trước.

NGUYỄN VŨ QUỲNH
Theo NVTPHCM



Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

Nhà văn Tiến Đạt: Vào đời từ cửa hẹp văn chương

Nhắc đến nhà văn Tiến Đạt, nhiều người yêu văn chương biết đến anh qua tác phẩm Tôi vào đời. Tác phẩm này sau đó được dựng thành phim Vào đời. Có thể nói, Tiến Đạt đã thực sự “vào đời” bằng cửa hẹp văn chương.
Nhà văn Tiến Đạt

Sau hai mươi năm cầm bút kể từ cuốn sách đầu tay, Tiến Đạt viết được: Có con chim lạ trong thành phố (tập truyện ngắn), Tội lỗi tự nhiên (tập truyện ngắn), Thể xác lưu lạc (tiểu thuyết), và mới đây là tập truyện ngắn: Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân và tập du ký Lữ khách gió bụi xa gần (NXB Văn hóa Văn nghệ). Hai mươi năm cho ra lò chỉ vài cuốn sách nhưng cũng đủ làm nên diện mạo một nhà văn Tiến Đạt.

Từ gái điếm đến mỹ nhân

Truyện ngắn Tôi vào đời giống như một tự truyện của Tiến Đạt viết về đời sống sinh viên tỉnh lẻ vào thành phố nhập học. Những chàng trai vừa rời làng quê, để có tiền ăn học đã phải làm nhiều công việc vô danh. Nhân vật trong Tôi vào đời làm thêm bằng nghề chạy xe ôm, phương tiện là chiếc xe 67 còn lại sau chiến tranh, mà khách hàng ruột là những cô gái điếm.

Hai mươi năm trước, Tiến Đạt học ĐH Luật TP.HCM ở ngã tư Bình Triệu (Q. Thủ Đức). Hẳn nhiên, gần trường ĐH thường có nhiều dãy phòng trọ cho sinh viên thuê. Trong những dãy phòng trọ chật hẹp, tồi tàn này, không chỉ có sinh viên mà còn có nhiều tầng lớp dưới đáy xã hội khác đang trú thân chờ mong một ngày đổi đời. Những người sống lâu năm ở Sài Gòn hẳn còn nhớ, khu Bình Triệu là nơi có rất nhiều cô gái hành nghề bán thân sinh sống. Bởi cách cây cầu Bình Triệu là bến xe Miền Đông khá phức tạp bởi dân tứ chiến giang hồ từ các miền Trung, Bắc đổ về Sài Gòn hàng ngày.
Tập truyện Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân của Tiến Đạt

Chàng sinh viên Tiến Đạt đã sống trong môi trường như thế, và có lẽ chính “cái thuở ban đầu” ấy đã theo anh mãi trong các sáng tác sau này. Truyện của Tiến Đạt thường miêu tả những nhớp nhúa của cuộc sống nhưng luôn để lại những dư vị an lành trong lòng người đọc. Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân lần này cũng vậy nhưng ngòi bút Tiến Đạt đã công phu hơn qua trải nghiệm của thời gian.

Nhà văn Trần Nhã Thụy, một người thân với Tiến Đạt cả trong văn và ngoài đời, nhận xét về tập truyện Truy đuổi tâm trạng mỹ nhân: “Lúc nào cũng vậy, truyện hay tiểu thuyết của Tiến Đạt đều có thao tác khảo sát bên ngoài và bên trong, như nhận diện hai mặt của cuộc sống. Nhưng Tiến Đạt không thuần đuổi theo thiên hạ, hay trôi theo dòng đời mà qua đó truy đuổi, soi rọi tâm trạng cá nhân mình. Sau những khốc liệt bao giờ cũng là ước nguyện được trở về bình an, được mộng một giấc lành. Do đó, truyện ngắn của Tiến Đạt tuy mô tả nhiều khía cạnh nhớp nhúa của xã hội, rốt lại vẫn để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng đẹp cùng với những chia sẻ cá nhân không màu mè giả tạo”.

Vừa đi chơi vừa kể chuyện

Tiến Đạt may mắn hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa, khi anh tốt nghiệp ĐH xong liền được Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) nhận vào làm. May mắn bởi, với một người viết, có điều gì khiến họ hạnh phúc hơn là được đi?! Gần như Tiến Đạt đã đi khắp mọi nơi trên quả đất này. Hẳn nhiên, anh đi vì công việc của người làm du lịch nhưng thông qua đó cũng là các chuyến “thu lượm” thông tin, hình ảnh của người làm nghề viết.

Tập du ký Lữ khách gió bụi xa gần của Tiến Đạt không có cái dữ dội mang tính “PR” như một vài cuốn sách khác, kiểu như: đi bộ xuyên Việt khi trong túi không có đồng nào, đi khắp thế giới với vài trăm USD trong túi…Nhưng du ký của Tiến Đạt, ngoài giới thiệu cảnh quan đẹp, văn hóa lạ của những vùng đất, còn mang đến cho người đọc sự suy ngẫm thông qua góc nhìn của một nhà văn.

Tiến Đạt chia sẻ về tập du ký này: “Cuốn sách này, chỉ là tập hợp của những bài viết mang tính ngẫu hứng, và dậy lên niềm xúc cảm về những vùng đất tôi từng đi qua. Vì, còn có nhiều nơi từng đặt chân đến, nhưng thật khó khi trải lòng ra trang viết. Có thể, còn chờ ủ thêm chất men, hoặc phải quay trở lại khơi nguồn mạch chảy suy tư du ký. Biết đâu, sẽ nằm trong dự án những cuốn sách tiếp theo, khi cuốn sách này bắt nhịp được tần sóng cảm xúc của độc giả - những người bạn thân thiết - mà tôi hiểu, cũng như tôi, luôn mang theo bên mình trái tim của lữ khách”.

HOÀNG NHÂN
Theo TTVH



Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019

Bùi Hữu Nghĩa - “Rồng vàng” của đất Đồng Nai

Ai đã từng một lần về vùng sông nước Cửu Long đều khắc ghi câu ca:

Đồng Nai có bốn rồng vàng
Lộc họa, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi.

Hay:
      
Vĩnh Long có cặp rồng vàng
Nhất Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Thần (tức Phan Thanh Giản).

Nghĩa thi chính là Bùi Hữu Nghĩa - con Rồng vàng của đất Đồng Nai, Vĩnh Long, rồng vàng trong lòng nhân dân Nam Bộ. Cho đến nay các ông Lộc họaLễ phúSang đàn là những ai thì ít người biết và chưa xác định được quê quán, tài năng của họ ra sao. Còn Phan Thanh Giản, tài thơ, người đầu tiên đỗ Tiến sĩ ở Nam Bộ, có học vị cao nhất cũng phải xếp sau Bùi Hữu Nghĩa, đủ thấy danh hiệu Rồng vàng mà nhân dân phong tặng cho Cụ thật cao quý và xứng đáng.
Tượng đồng danh nhân Bùi Hữu Nghĩa

Bùi Hữu Nghĩa sinh năm Đinh Mão (1807) tại thôn Bình Thủy, huyện Vĩnh Định thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Đến triều Minh Mạng (1836) đổi là thôn Bình Thủy, tổng Định An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang, và hiện nay là phường Bình Thủy thuộc Thành phố Cần Thơ. Cụ sinh ra trong một gia đình làm nghề chài lưới và tài thơ phú đã nổi tiếng khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Cụ đỗ Thủ khoa kỳ thi Hương ở Gia Định tháng 2 năm Ất Mùi (1835) - năm Minh Mạng thứ XVI. Vì vậy nhân dân thường gọi Cụ một cách thân mật là Thủ Khoa Nghĩa. Năm Bính Thân (1836) ông ra Huế thi Hội, nhưng rớt vì phạm húy nhẹ, bị vua Minh Mạng bắt giữ ba ngày, rồi được tha. Tiếp theo là những năm tháng thăng trầm trên con đường hoạn lộ: Lúc làm Tri huyện Phước Chánh (Biên Hòa), khi làm Tri huyện Trà Vang (Vĩnh Long), rồi bị giáng chức làm Thủ ngự đồn Vĩnh Thông (Châu Đốc), sau đó lại được thăng chức Phó quản cơ, rồi Quản cơ cho tới khi từ quan về ở ẩn (1858). Trên 24 năm làm quan, Cụ luôn nêu cao nghĩa khí, đứng về phía nhân dân chống lại bon quan lại tham nhũng, nêu cao tinh thần trọng nghĩa khinh tài, giữ vững sĩ khí đúng như một vế câu liễn ghi ở đền thờ Cụ: Cương dũng đả cường hào, sĩ khí thiên thu bất hủ.
    
Con đường làm quan của Cụ chính là để có điều kiện đem tài năng giúp dân, cứu nước. Cụ luôn phất cao cờ nghĩa, chiến đấu trực diện với kẻ thù cho tới khi cáo quan về nhà dạy học, làm thuốc, sáng tác thơ văn. Ý chí ấy trước sau như một, theo đạo lý của kẻ sĩ : Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã/ Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng (thấy việc nghĩa mà không làm không phải là người dũng cảm, gặp người khác lâm nguy mà không cứu, không phải là người anh hùng). Mặc dù đã từ quan nhưng Cụ vẫn bí mật giúp nghĩa quân Phan Tôn, Phan Liêm (con Phan Thanh Giản) mở rộng thế lực ở Cần Thơ và Vĩnh Long trong những năm 1867-1868, bí mật làm cố vấn cho nghĩa quân Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự ở Cần Thơ (1869). Tấm lòng yêu nước vì dân của Cụ giữ trọn cho tới khi lâm bệnh và mất ngày 21 tháng Giêng năm Nhâm Thân (tức ngày 29/ 2/ 1872- năm nhuận tháng 2 có 29 ngày), thọ 65 tuổi. Hiện nay khu bia mộ nhà thơ nằm tại phường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ, đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích văn hóa – lịch sử năm 1994. Rất nhiều địa phương đã lấy tên Cụ để đặt tên cho các trường học, đường phố, tỏ lòng tri ân Uống nước nhớ nguồn.
    
Thơ văn của cụ Nghi Chi - Bùi Hữu Nghĩa để lại cho chúng ta ngày nay không nhiều lắm do khói lửa chiến tranh tàn phá. Nhiều bài, nhiều giai thoại còn tồn nghi. Ông Phạm Duy Tư, nguyên Hiệu trưởng trường PTTH Bùi Hữu Nghĩa ở TP Cần Thơ đã công sưu tầm, hiệu đính, chú giải và tập hợp được một số thơ văn, giai thoại thành cuốn Giai thoại và thơ văn Bùi Hữu Nghĩa (Ban Khoa giáo tỉnh Cần Thơ (cũ) Xuất bản tháng 2/1994). Với 18 giai thoại, 39 bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, văn tế cùng một số bài thơ khác ca ngợi Bùi Hữu Nghĩa… đã là tài liệu quý, có độ tin cậy cao cho chúng ta làm tư liệu. Ngoài số thơ văn và câu đối, Cụ còn có vở tuồng nổi tiếng Kim Thạch Kỳ Duyên, còn hai vở Tây Du và Mậu Tòng chưa sưu tầm được. Đề tài trong thơ văn Bùi Hữu Nghĩa rất phong phú, đa dạng. Từ cảnh thôn quê dân dã đến cảnh rừng núi, thành thị, chốn cung đình,  đều có mặt trong thơ. Mỗi lời thơ, áng văn như thấm đượm nỗi thương ghét rạch ròi theo tuyên ngôn nghệ thuật mà Nguyễn Đình Chiểu- bạn Cụ, đã từng tuyên bố:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

Sĩ khí của Cụ giữa cơn nước lửa không hề vơi:

Xông cơn nước lửa dư trăm trận
Công nghiệp nay đà đáng mấy thoi 

                        (Đũa bếp)

Cụ vạch mặt bọn quan lại xu nịnh, độc ác, đục khoét của dân làng. Lòng dạ chúng như cây vông lộp xộp, nhưng chứa đầy gai góc:

Da thịt càng già càng lộp xộp
Ruột gan chẳng có, có gai chông 

                    (Cây vông)

Bọn chúng là loài cáo vườn hoang chỉ giỏi mượn oai hùm, tâm địa trâng tráo như Ái Châu trong Kim Thạch Kỳ Duyên toát lên cái vẻ bề ngoài lòe loẹt, đáng ghét:

Nhởn nhơ, áo áo, khăn khăn
Nha nhuốc, vòng vòng, chuỗi chuỗi.

Tên quan trùm thì nghe quan rụt cổ, thấy lệ lắc đầu. Tên quan huyện Lợi Đồ có chân tướng thảm hại như ruồi bu đuôi ngựa nhưng luôn mồm khoe mẽ, hoạch hoẹ:

Nghênh ngang đầu dọc trăm quan
Đỏng đảnh miệng khua chín bệ

Cụ xem bọn chúng như cây bần chẳng có sức chống đỡ nhà lớn mà lại vênh váo làm dáng, chẳng khác gì loài cò, loài khỉ:

Quyến luyến bầy cò bay sập sận
Chiêu qui bầy khỉ tới vần lân

Cụ cũng đã sát cánh cùng Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt tấn công tới tấp, vạch mặt tên phản nước Tôn Thọ Tường bằng những vần thơ đanh thép, rực lửa:

                               Hùm nương non rậm đang chờ thuở
                               Cáo loạn vườn hoang thác có ngày.
    
Nhưng phải tới bài Ai xui Tây đến, chất thép trong thơ Bùi Hữu Nghĩa mới phát nổ như đại bác bắn vào thực dân Pháp và bọn tay sai:

                                Ai khiến thằng Tây tới vậy cà?
                                Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba
                                Hẳn hòi ít mặt đền nợ nước
                                Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà.
                                Đá sắt ôm lòng cam với trẻ
                                Nước non có mắt thấy cho già
                                Nam Kỳ chi thiếu người trung nghĩa
                                Báo quốc cần vương dễ một ta?

                                   (Đăng trên Mítsơlavê của Pétrutký – Sài Gòn 1889)

Bài thơ đã được dịch ra tiếng Pháp làm cho kẻ thù ăn không ngon ngủ không yên một thời. Ai khiến thằng Tây tới vậy cà? là một câu hỏi tu từ không cần trả lời mà người đọc vẫn tìm ra kẻ cõng rắn cắn gà nhàrước voi dày mả tổ chính là Nguyễn Ánh và triều đình nhà Nguyễn tham sống sợ chết. Phái chủ hòa chiếm số đông trong triều do Tôn Thọ Tường cầm đầu, cùng với vua Tự Đức luôn luôn sợ sức mạnh của Chủ nghĩa tư bản phương Tây. Quan lại thì Hẳn hòi ít mặt đền nợ nước / Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà. Bọn mũ cao áo dài ấy Khi bình làm hại dân ta / Túi tham mở rộng chẳng tha miếng gì / Đến khi hoạn nạn gian nguy / Mặt trông ngơ ngác chân đi gập ghềnh (Chính khí ca – vô danh).
    
Sau năm 1867, cả Nam Kỳ lục tỉnh rơi vào tay thực dân Pháp, cụ Phan Bội Châu, nhà chí sĩ yêu nước cũng phải than vãn:

                                      Than ôi lục tỉnh Nam Kỳ
                            Ngàn năm cơ nghiệp còn gì nữa không?

Nhưng người trung nghĩa ở Nam Kỳ không phải ít, mà sau này họ đã tập hợp lại thành phong trào tỵ địa rồi phong trào cần vương yêu nước. Lúc bấy giờ vua Hàm Nghi mới 12 tuổi, Tôn Thất Thuyết đứng đầu phái chủ chiến, đề xướng phong trào này. Cụ Nghi Chi Bùi Hữu Nghĩa đã tự hỏi mình mà cũng là kêu gọi những sĩ phu giàu lòng nghĩa khí:

                                          Nam Kỳ chi thiếu người trung nghĩa
                                          Báo quốc cần vương dễ một ta?

Cụ vẫn hy vọng một ngày kia sẽ có một vị minh lương tập hợp phong trào, rửa nhục cho nước. Dù tuổi đã cao, Cụ vẫn dốc lòng báo quốc:

                              Hùm nương non rậm đang chờ thuở
                              Cáo loạn vườn hoang thác có ngày.

Và tin tưởng mãnh liệt:

                            Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây
                            Đâu để giang sơn đến nỗi này?     

                                                    (Thời cuộc)

Ước mơ cháy bỏng tâm can của Cụ là nước nhà được độc lập, người dân được sống thanh bình:

                         Nước non ví mà như cũ được
                         Trong tuần say mãi sướng hơn không?

Nếu chất thép trong thơ Cụ luôn loé sáng, rực lửa thì chất tình càng chứa chan hơn. Hai yếu tố ấy luôn hòa quyện vào nhau trong trái tim của người nghệ sĩ- chiến sĩ. Trong thơ Bùi Hữu Nghĩa có tiếng thét căm hờn quân cướp nước, lũ bán nước, và có cả tiếng khóc xót thương cho những người dân vô tội bị giết hại trong những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Bài Quá Hà Âm cảm tác là tiếng lòng của Cụ trước những đống xương vô định, những vũng máu bầm ứ, vẽ nên bức tranh ảm đạm, dật dờ có sức cảm thông lớn, sức tố cáo cao tội ác dã man do quan quân triều đình nhà Nguyễn gây ra (Thời Minh Mạng – Thiệu Trị):

Mịt mù mây đen kéo tới sầm
Đau lòng thuở nọ chốn Hà Âm 
Đống xương vô định, sương phau trắng
Vũng máu phi thường cỏ nhuộm thâm
Gió trốt dật dờ nơi chiến lũy
Đèn trơi leo lét dặm u lâm
Nghĩ thương con tạo sao dời đổi
Dắng dỏi đêm trường tiếng dế ngâm.

Với bài thơ này, Cụ như một chứng nhân của lịch sử. Bài thơ là bức tranh tang thương, trời không trăng sao, tối sầm, chỉ có mây đen mịt mù, từng cơn gió thổi xoáy, một bãi tha ma khổng lồ với ánh sáng leo lét của đèn trơi (dân gian thường gọi là ma trơi). Những đống xương vô tội trắng phau, cỏ cây trong màn đêm như được nhuộm thắm bằng những vũng máu bầm thâm. Đó là vũng máu phi thường của nghĩa quân và của những người dân vô tội bị sát hại, mãi mãi mang màu sắc ảm đạm của cõi u lâm. Đó là bản cáo trạng quan quân triều Nguyễn, và cũng là nỗi lòng xót xa đau đớn của trái tim nhân đạo cao đẹp của Cụ.

Bùi Hữu Nghĩa không những là người chiến sĩ hết lòng vì dân vì nước, mà còn là một người chồng rất mực thủy chung, người cha thương yêu con vô hạn. Ở chùm thơ Vịnh ngũ luân có bài Phu- Phụ nói về quan hệ vợ chồng. Tác giả đã không xếp thứ bậc theo đạo Nho quy định kiểu tam cương, ngũ thường, mà xếp Phu (vợ) lên trước Phu (chồng), đủ thấy sự tôn trọng của Cụ đối với người phụ nữ. Cụ có một quan niệm tiến bộ về đạo vợ chồng là phải cùng nhau chia sẻ ngọt bùi, và gắn bó thuỷ chung:

                        Khi nghèo đồng chịu, giàu đồng hưởng
                       Kết tóc trăm năm mới đặng lòng.
     
Ở vở tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên, Cụ đã ngợi ca Kim Ngọc, bộc lộ tình thương, lòng biết ơn đối với vợ là Vô Hà, đã chăm sóc mình lúc ốm đau và nuôi mình ăn học:
    
Thương những vợ phong tư, gặp lúc chồng tật bệnh / Hổ bấy mặt dày mày dạn, tiếc thay mình ngọc vóc ngà… / Hổ phận chồng khó nổi cầm lòng, thương thân vợ càng thêm hổ mặt / Chừng ấy dầu an vóc ngọc, ơn kia đáng đúc nhà vàng.

Hình bóng của Vô Hà và Kim Ngọc đã in đậm nét vào mối tình sâu nặng của Cụ với vợ là bà Nguyễn Thị Tồn.
     
Bà Tồn cương trực nghĩa khí, thương chồng con hết lòng. Khi Cụ bị kết án tử hình ở vụ Láng Thé, bà Tồn đã lặn lội ra tận triều đình Huế để gióng trống kêu oan ở tòa Tam Pháp. Mẹ vua Tự Đức là Thái hậu Tù Dũ đã cảm động và tặng bà bốn chữ Liệt phụ khả gia. Vua Tự Đức đã xóa án tử hình cho Bùi Hữu Nghĩa, giáng chức, đày đi làm lính thú ở biên thùy An Giang. Khi về tới nhà, bà Tồn đã bệnh nặng và mất. Bùi Hữu Nghĩa đã viết những lời văn đầy nước mắt qua đôi câu đối thờ vợ, vừa ca ngợi công đức của bà Tồn vừa xót xa ân hận với mình:
    
Tớ nghèo mình lo giúp, tớ oan mình lo kêu, chòm xóm đều khen mình đáng vợ. Mình đau tớ chẳng nuôi, mình chết tớ chẳng táng, non sông cười phận tớ làm chồng
    
Ở bài Văn tế vợ lời lẽ chứa chan nỗi đau và tình đằm thắm thiết tha. Ông hết lời ca ngợi tính nết của vợ hiền:
    
Ăn ở kiệm cần, giàu không khoe, khó cũng không dua, mua nghĩa chác nhơn, trước chẳng phai, sau chẳng lạt, hoặc “Chồng vợ đều không cha mẹ, em luống thân phận lẻ loi / Cậu cô hòa cửa anh em, tình vui thuận lời không chếch mác”.
   
Tiếng khóc vừa ai oán vừa như ghen với đất trời:
   
Đất chẳng phải chồng, sao gởi thịt xương cho đặng / Trời không mất vợ, thử xem gan ruột làm sao?.
    
Tai ương liên tiếp đến với Bùi Hữu Nghĩa, thật phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Đứa con gái đầu lòng Bùi Thị Xiêm mất tại Phước Long lúc mới ba tuổi, đứa con trai thứ hai là Bùi Hữu Vàng cũng không nuôi được. Lúc ông lâm nạn đứa con trai thứ ba Bùi Hữu Tú mới chín tuổi, bà Tồn phải gởi người thân là ông Quản Kiệm trông nom để bà ra Huế kêu oan cho chồng. Cụ đã nêu được hoàn cảnh ấy trong bài tế:

Con chín tuổi thơ ngây, một bóng em bao đành nhắm mắt tầm tiên / Chồng trăm bề lo lắng một mình, bậu bao nỡ sắp lưng cỡi hạc … Đêm khuya hãy nâng niu một trẻ, nghĩ từ con ruột tợ kim châm / Ngày ra vào vắng vẻ không em, nhớ từng chặng gan dường muối xát.

Ba năm sau, khi Cụ ra thăm mộ vợ, vẫn cảm thấy như bà ở đâu đây:

                           Đã chẵn ba năm mới đặng thăm
                           Màn loan đâu vắng bặt hơi tăm
                           … Có linh chín suối đừng sao lãng
                           Thỉnh thoảng về thăm lúc tối tăm.    

                                             (Đề nhà mộ vợ)
      
Khi con gái mất, Cụ cũng có một bài văn tế thấm đẫm nước mắt và lòng tiếc thương:
     
Thảo với cha, lành với mẹ như bát nước ỷ không xao / Ra cùng xóm, ở cùng làng, ước hột cơm đà chẳng cắn / Chị hay niềm, em hay nở, ai mà chẳng dấu chẳng yêu / Ăn bữa trước, lo bữa sau, mẹ đà khỏi dò, khỏi dặn.

Và đây là lời thầm thì như tiếng nói giữa hai cõi âm dương của người cha nói với con:

Đường ra lối vào còn đó, con đi đâu cho cỏ mọc xanh / Thúng may rổ vá còn đây, con đi đâu cho mốc meo đóng trắng?

Với hai bài văn tế vợ và con, cùng với Quá Hà Âm cảm tác cũng đủ thấy cái tình vời vợi của Cụ với người thân và với mọi kiếp người.
     
Được đào tạo từ nơi cửa Khổng sân Trình, nhưng ở Bùi Hữu Nghĩa không có sự tôn thờ hai chữ trung quân một cách mù quáng. Trong thơ Cụ, ta không thấy có chỗ nào gắn đất nước với vua chúa và nhà nước phong kiến, mà chỉ nói đến trách nhiệm của mình trước vận mệnh dân tộc, như các bài: Thời cuộc, Tức sự, Ngọa bệnh, Ký thá, Ai xui Tây đến?… Bùi Hữu Nghĩa cũng không coi phụ nữ là nữ nhi thường tình như một số bậc túc Nho khác. Qua một số bài văn tế và vở tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên ông đã ngợi ca thiên chức của người vợ, người mẹ, người em gái.

Đối với việc học tập, Cụ luôn khuyên học trò:

                             Dẫu có ruộng vườn năm bảy mẫu
                             Sao bằng kinh sử một đôi pho.

Đặc biệt Cụ xác định cho họ một thái độ học tập đúng đắn, tránh lối học thụ động, nhồi nhét, tránh xa mọi sự quyến rũ khác:

                             Có công đi học phải lo toan
                             Chơi bời hoa nguyệt đừng mơ tưởng
                            Học hỏi vàng thau phải đắn đo.

Với đạo quân thần Cụ quan niệm:

                           Minh lương hai chữ vầy trên dưới
                           Nước trị, nhà an, bốn biển vui.

Đạo cha con phải:       Cha lành, con thảo tiếng thơm còn.

Đạo vợ chồng phải:    Khi nghèo đồng thực, giàu đồng hưởng
                                Tình nghĩa trăm năm ở hết lòng

Đạo anh em phải:      Sanh cùng một cội, cùng xương thịt
                                Sống thác nương nhau, cứng vực mềm

Đạo bằng hữu phải:  Dàm dáo nương nhau ở lấy tình
                               … Giúp lời nhân nghĩa tiếng càng xinh.

Đối với đời, Cụ luôn ấp ủ hy vọng:

                         Mong ước non sông như thuở trước
                        Đất trời say ngất một tao ông    

                                             (Tức sự)

Với triều đình, Cụ là một vị quan thanh liêm chính thực. Với dân tộc, Cụ là một công dân yêu nước, luôn lấy dân làm gốc. Với gia đình, Cụ là một người cha kính mến, người chồng thủy chung. Với bạn be, anh em, Cụ là một người bạn tốt, người anh hiền, người em quý. Tấm lòng trung nghĩa của cụ như phơi ra giữa trời đất, đúng như một vế câu đối ở mộ Cụ: Trung can đồng ái quốc, nghĩa khí hiệp ưu gia.
     
Cụ Nghi Chi Bùi Hữu Nghĩa đã trở thành hào khí Đồng Nai, là Rồng vàng của đất Chín rồng, là niềm tự hào của nhân dân cả nước. Người thi sĩ – chiến sĩ ấy bằng lưỡi gươm và ngòi bút lông đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, là một nghệ sĩ lớn trên nhiều lĩnh vực: nhà quân sự, nhà thơ, nhà văn, nhà soạn tuồng, nhà giáo, nhà thuốc… Tất cả nghị lực và tâm hồn của Cụ vằng vặc sáng ngời hai chữ Trung Nghĩa.
     
Thơ văn của Cụ mang hơi thở của vùng sông nước Cửu Long, thấm đượm chất dân gian với nhiều thành ngữ, tục ngữ được dùng rất sáng tạo:

                  Mụ lớn đừng nói ớt nói tiêu
                  Dì nhỏ chớ cà riềng cà tỏi
              … Những tưởng thuốc linh thời đã lạt
                 Hay đâu nước lã khuấy nên hồ
    
                                  (Kim Thạch Kỳ Duyên)

Hay:  Miệng hùm hay nói liếngan sứa đã chạy ngay.

Rất nhiều điển tích, điển cố của Trung Hoa đã được Cụ Việt hóa theo cách cảm, cách nghĩ của người Nam Bộ. Đối với tục ngữ, thành ngữ có khi Cụ dùng nguyên vẹn, có khi tách ra một vế xen vào lời văn : Ngọn đèn gió bạt, Dầu dãi nắng mưa, ăn cần ở kiệm, giàu không khoe, khó không đua, ruột tợ kim châm, gan dường muối xát, gió nữ, mưa ngâu… Đôi khi Cụ còn vận dụng lối lẩy Kiều hoặc lối kể chuyện dân gian, vừa đọc vừa kể Vân Tiên. Từ câu Kiều của Nguyễn Du: Kiều càng sắc xảo mặn mà / So bề tài sắc lại là phần hơn, thì Cụ viết ở bài Vịnh Kiều:

                             Nghĩ Thúy Kiều tài sắc kém chi ai
                             Sắc có một mà tài biết mấy?

Chính vì thế mà thơ văn của Bùi Hữu Nghĩa có sức sống lâu bền trong lòng người đọc nhiều thế hệ.
         
Đã hơn một thế kỷ trôi qua, kể từ ngày Cụ ra đi, những vần thơ và tấm lòng trung can nghĩa hiệp của Cụ vẫn chói sáng, thúc giục bao thế hệ cầm bút, cầm súng và để lại cho chúng ta nhiều bài học làm người. Phần mộ của nhà thơ từ năm 1872 đến nay đã được trùng tu bốn lần, bất chấp sự dòm ngó của kẻ thù trong thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1942, 1964, 1975, 1987). Bia đá cũ còn nguyên hàng chữ: Đại Nam – Hiển Khảo giải nguyên Bùi phủ quân chi mộ. Tết vu Nhâm Thân niên, chính nguyệt, niệm nhất nhật – Nam Bùi Hữu Tú kính lập. Trước mộ Cụ có đền thờ ghi hai chữ lớn làm bài vị: Trung Nghĩa. Năm 2011, TP Cần Thơ đã xây dựng lại khu tưởng niệm mới trên nền khu mộ cũ mở rộng, với tổng kinh phí gần 58 tỷ đồng, bao gồm các hạng mục: Nhà thờ khu mộ; khu trưng bày, nhà bia; nhà khách, nhà làm việc; sân đường nội bộ, cây xanh, hoa kiểng, nhà nghỉ chân và một số hạng mục phụ trợ khác. Riêng khu nhà thờ khu mộ códiện tích lên 960m2. Công trình hoàn thành trước ngày giỗ lần thứ 140 của Cụ (21/1 âm lịch - 2012).
         
Nhớ tới Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa là nhớ tới Rồng vàng của đất Cửu Long, nhớ tới người chiến sĩ đi tiên phong trong buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp bằng ngòi bút và bằng hành động thiết thực. Chất thép và chất tình luôn thấm đẫm trên mỗi trang thơ, trang đời của Cụ.

LÊ XUÂN
Nguồn: NVTPHCM


Nhà văn Thanh Giang của quê hương Đồng Khởi

“Trong bảo tàng Bến Tre Đồng khởi, Thanh Giang dừng rất lâu trước các hiện vật, một mảnh đạn, một cây chông, một lưỡi mác, một chiếc lược bằng kim loại, chiếc bi đông méo mó… dường như ông đang tìm về với những đồng chí đồng đội mình, với những bà má Bến Tre sẵn sàng hy sinh đứa con cuối cùng của mình cho cách mạng. Đó là mạch nguồn đã nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo của ông.”
Nhà văn Thanh Giang bên sông Bến Tre

Nhà văn quân đội Thanh Giang quê ở xứ dừa Bến Tre, quê của nữ tướng anh hùng Nguyễn Thị Định cùng đội quân tóc dài xuất quỷ nhập thần đã làm nên một Dáng đứng Bến Tre ngày Đồng khởi. Các sáng tác văn học của Thanh Giang đậm chất Nam Bộ, nơi ông từng cầm súng. Đó là những: “Dòng sông nước mắt”; “Vùng tranh chấp”; “Khúc chuông chùa”; “Rừng hát”; “Lửa hương rừng dừa”; “Sóng Hàm Luông”… Trong các sáng tác của ông, dù là thơ, kịch hay văn xuôi, thì hình ảnh người lính nơi ông chiến đấu và công tác đều hiện lên rất quả cảm, chân tình nhưng cũng thật đời thường, dung dị.

Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tại chiến trường “Miền Đông gian lao mà anh dũng” ông được biên chế về Cục Chính trị Quân giải phóng Miền Nam với nhiệm vụ trợ lý văn nghệ, đã cùng các nhà văn Võ Trần Nhã, Minh Khoa làm tờ Văn nghệ Quân giải phóng những số đầu tiên. Sau đó nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn, rồi sau nữa là Nguyễn Trọng Oánh, Triệu Bôn, Nam Hà… Có thể nói những ngày ở Văn nghệ Quân giải phóng là những ngày đẹp đẽ, trẻ trung, sôi nổi nhất của nhà văn Thanh Giang. Những ngày đó, ông đã viết những tác phẩm đầu tiên: “Một tên sen đầm Hoa Kỳ”, “Đánh trong lòng địch”… 

Với tư cách một biên tập viên, một phóng viên mặt trận, một nhà văn chiến sĩ, Thanh Giang đã cùng bộ đội tham dự các chiến dịch Bình Giã, Bàu Bàng, Sài Gòn-Mậu Thân 1968… Ông từng “Vượt đồng chó ngáp”, băng lộ 4 “Con lộ bạc đầu”, vượt Cửu Long Giang “Con sông giảm kỷ”… Ông từng đột ấp, công đồn, chống càn… rồi làm rẫy, săn thú, hái rau, đào củ rừng, xuống sông, ra suối bắt cá cải thiện. Những trái dừa xiêm mát ngọt đã bao đời nuôi người dân xứ dừa Bến Tre Đồng khởi. Đã bao nhiêu trái dừa được hái xuống nuôi bộ đội, nuôi niềm tin và hy vọng mà hôm nay nó vẫn thơm thảo ngọt lành. Ông Năm, cái tên thân thương mà bà con chòm xóm dành cho Thanh Giang đã nói lên tình đất, tình người ở đây sâu đậm biết chừng nào. Thanh Giang đã có vài chục tác phẩm bao gồm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết. Tiêu biểu như: Bông súng đỏ; Chiến trường sống và viết; Cô biệt động; Dòng sông nước mắt… Đặc biệt là tiểu thuyết Khúc chuông chùa viết về các chiến sĩ biệt động Sài Gòn, một tiểu thuyết hay nhất trong đời văn Thang Giang. Ông cũng có những kịch bản phim chất lượng về chiến tranh, từng được nhiều giải thưởng Văn học của trung ương và địa phương. Sau bộ phim “Đêm Bến Tre” (ông là tác giả kịch bản văn học mang tên: Lửa hương rừng dừa, được giải B - không có giải A của Tổng cục Chính trị), năm 2005 ông hoàn thành tiểu thuyết Sóng Hàm Luông khá dày dặn, bề thế. Đây là cuốn tiểu thuyết ông viết để “Kính dâng hương hồn nữ tướng Anh hùng Nguyễn Thị Định cùng đồng bào đồng chí Bến Tre đã anh dũng ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng”. Tác phẩm gần 600 trang này nằm trong chương trình đầu tư sáng tác viết tiểu thuyết sử thi của Bộ Quốc phòng.

Trường phổ thông trung học Nguyễn Văn Tư, nơi cậu bé Thanh Giang từng theo học để rồi lớn lên thành chiến sĩ, thành nhà văn cách mạng, một ngày đầu tháng 5-2009 rưng rưng đón người lính già trở về. Những cô bé cậu bé đang nô đùa kia rồi ai sẽ trở thành chiến sĩ, nhà văn? Ông đứng nhìn những tươi non hôm nay với dáng điệu và xúc cảm khó tả của một người từng đi qua biết bao cơ cực. Nhìn ông lúc ấy mới thấy hết ý nghĩa của những chiến thắng, những hy sinh của nhiều thế hệ mà trong ấy ông là một đại diện. 

Dưới bóng tượng đài Chiến thắng Đồng khởi-Bến Tre, ba thế hệ gia đình nhà văn đứng lặng trước những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh, máu xương của một thời. Ông im lặng rất lâu trước những hàng bia liệt sĩ khuyết danh. Trong cái nắng xứ dừa, mái đầu trần đốm bạc của nhà văn khe khẽ rung lên. Ông dừng lại rất lâu trước những hàng chữ thẳng tắp trên tấm bia đá hoa cương màu xám. Phải đến khi người cháu nhắc, ông mới chậm chậm bước từng bậc vào khu bảo tàng. Trong bảo tàng Bến Tre Đồng khởi, Thanh Giang dừng rất lâu trước các hiện vật, một mảnh đạn, một cây chông, một lưỡi mác, một chiếc lược bằng kim loại, chiếc bi đông méo mó… dường như ông đang tìm về với những đồng chí đồng đội mình, với những bà má Bến Tre sẵn sàng hy sinh đứa con cuối cùng của mình cho cách mạng. Đó là mạch nguồn đã nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo của ông. Để rồi, ở cái tuổi tám mươi, lão nhà văn vẫn cầm chắc cây bút, như là cây súng của mình.

PHÙNG VĂN KHAI
Theo VNQĐ


BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...