Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2018

Xung quanh cái chết của nhà văn Nhất Linh

Nhà văn Nhất Linh, tên thật là Nguyễn Tường Tam, cử nhân khoa học Pháp, chủ súy nhóm văn chương Tự lực văn đoàn những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước.

Nhất Linh còn là đại biểu Quốc hội khóa I, là Bộ trưởng ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến,... thế nhưng ông từ chức và lưu vong.
Nhà văn Nhất Linh

Nhắc tới Nhất Linh, nhà thơ Tú Mỡ nói rằng đó là người vừa đáng yêu vừa đáng tiếc. Ông viết “Điều đáng tiếc là sau kháng chiến, anh đã theo bè lũ Ngô Đình Diệm vào Nam để rồi bị bè lũ ấy chèn ép, cắt mất nguồn sống đến nỗi uất ức phải tự tử”.

Vậy vì sao mà Nhất Linh tự quyên sinh?

Với tấm thẻ căn cước số F 13108 do Phủ thủ hiến Bắc Việt cấp ngày 19/2/1951 tại Hà Nội, ghi rõ: “Nguyễn Tường Tam, nghề nghiệp văn sĩ, nơi sinh tổng Ngọc Trục, Cẩm Giàng, Hải Dương, con ông Nguyễn Tường Nhu và bà Lê Thị Sâm...”, khoảng mùa xuân năm 1951, nhà văn Nhất Linh từ Hà Nội vào Sài Gòn cư trú.

Ở đây ông cho in lại các tác phẩm cũ và viết tác phẩm mới. Thời gian này vợ con ông cũng đã di cư vào Nam. Bà Nhất Linh (tức Phạm Thị Nguyên) mua một căn gác trong chung cư số 39 đường chợ An Đông, Chợ Lớn để lấy chỗ ở và buôn bán.

Sang năm 1955, ông lên Đà Lạt, lấy thú vui là chơi hoa phong lan. Năm 1958 Nhất Linh về ở luôn Sài Gòn hoạt động văn hóa. Ông là vị Chủ tịch đầu tiên của Văn Bút Việt Nam (về sau là cố vấn).

Bấy giờ chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức tìm diệt người kháng chiến cũ. Luật 10/59 ra đời đã giết hại bao nhiêu thường dân vô tội, với phương châm là thà giết nhầm còn hơn bỏ sót. Nhất Linh cùng các nhà hoạt động khác thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết, ủng hộ cuộc đảo chính của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông.

Cuộc đảo chính tháng 11 năm 1960 thất bại, hầu hết những người liên can bị bắt. Chính quyền Diệm nhân cơ hội này cho bắt giam các nhân sĩ, lãnh tụ đảng phái, giáo phái khác... chỉ mình Nhất Linh được quản thúc tại gia hơn hai năm rưỡi. Ngày 5 tháng 7/1963 Tòa án quân sự đặc biệt Sài Gòn có trát đòi ông có mặt lúc 7giờ30 ngày 8/7/1963, tại Tòa thượng thẩm, số nhà 131 đường Công Lý Sài Gòn, và để nghe xét xử tội “xâm phạm an ninh Quốc gia”. Ngày 6/7/1963, người chiến binh Nguyễn Văn Nam đã tống đạt lệnh này tới tận tay ông.

Trong hồi ký “Nhất Linh – cha tôi” của Nguyễn Tường Thiết phát hành tại Sài Gòn năm 1964, những ngày cuối cùng của Nhất Linh được kể lại như sau:

“… Buổi sáng ngày 7/7/1963, Nhất Linh đi thật sớm. Ông mở ngăn kéo, lấy mấy tập sách, tập bản thảo những tác phẩm cuối cùng, gói vào một tờ nhật báo. Các con đoán có lẽ ông đi họp ở đâu vì cũng đúng vào Chủ nhật tuần trước, tức 30/6 ông đã tới dự phiên họp đặc biệt của nhóm Bút Việt.

Khoảng gần 10 giờ Nhất Linh về. Ông không thay quần áo ngay như mọi lần, cứ để nguyên quần áo tây ngồi xuống ghế xích đu, bên cạnh người con trai. Điếu thuốc lá rung rung ở trên đầu hai ngón tay, ông mở bia, rót vào cốc nhỏ ra dáng suy nghĩ. Một xấp ronéo để trước mặt ông.

Đó là bản cáo trạng khá dày, trong đó có những lời kết tội như “phản quốc”, “xâm phạm an ninh quốc gia”. Trong suốt hơn một giờ, Nhất Linh vẫn giữ im lặng, suy nghĩ. Khoảng 11 giờ, với vẻ thảnh thơi, ông thay quần áo ngủ,  rồi dặn người con trai Nguyễn Tường Thiết: “Chiều nay con lại luật sư Chính lấy hết các giấy bác sĩ về. Biết địa chỉ không?”.

Con trai nói: “Con đoán họ chẳng làm gì cậu đâu, nếu họ muốn bỏ tù thì họ đã bắt từ lâu rồi. Việc này họ đem ra xử cho có lẽ, rồi kết mình vô tội để hạ nhục chơi. Vả lại nếu có ra Côn Đảo thì cũng chả sao, chỉ làm giàu thêm cuộc đời tranh đấu của cậu. Cứ  coi như là một dịp đi nghỉ mát”.

Nhất Linh đáp lại: “Cậu chẳng sợ kết quả ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau. Có điều bực nhất là họ lấy tư cách gì mà lại đem xét xử những người quốc gia đối lập rồi gán cho họ tội phản quốc”.

Nhất Linh đã chủ ý cho độc dược vào rượu uống. Khi gia đình phát hiện ra thì đã muộn: Cuối phòng, vẫn trên cái ghế xích đu, ông gục đầu hơi ngoẹo về phía vai phải, một cánh tay buông lỏng thả xuống sàn nhà. Dáng điệu ấy thoạt trông thì khổ sở nhưng nhìn lên gương mặt thì tuyệt nhiên không một nét đau đớn. Ông như người ngủ gục.

Gương mặt êm ả, bình thản. Để ý lắm mới thấy một ít nước bọt rỉ ra ở khóe mép… Thân thể ông mềm, trong túi có một tờ giấy, đó là Di ngôn. Ông đã viết hai bản di chúc, một để trong túi áo ngực, một tờ dặn đưa cho bác sĩ Đặng Văn Sung, nhờ ông ấy chuyển ra ngoại quốc.

Nhất Linh đã ra đi ở tuổi 58 để lại di chúc:

“Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng… Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.
7/7/1963 Nhất Linh Nguyễn Tường Tam”.

Theo Thế Uyên trong bài “Người bác” (TLVĐ trong tiến trình văn học dân tộc – NXB VHTT, năm 2000), đám tang ông có nhiều cảnh sát dã chiến và mật vụ đi lẫn trong những người đưa đám. Đoàn đưa tang đầu tiên là một vòng hoa lớn, sau là một người mang ảnh Nguyễn Thái Học, tiếp theo là tấm ảnh chụp lại hình Nhất Linh do Nguyễn Gia Trí vẽ.

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương viếng Nhất Linh đôi câu đối:

* Người quay tơ, đôi bạn, tối tăm, anh phải sống chứ sao đoạn tuyệt.
* Đời mưa gió, lạnh lùng, bướm trắng, buổi chiều vàng đâu chỉ nắng thu.

Trừ bốn chữ “chứ sao, đâu chỉ” ra, còn là tên tác phẩm của ông.

Ngày 8/7/1963 phiên tòa bắt đầu xét xử. Trong số những can phạm, có người nào đó đã xé một chiếc áo đen làm thành từng mảnh chia cho mọi người, đeo cánh tay trái làm băng tang Nhất Linh, khiến cho chủ tọa phiên tòa ngỡ ngàng.

“Ủy viên Chính phủ”, Trung tá Lê Nguyên Phụ tòa án quân sự đặc biệt (người ký trát đòi Nhất Linh ra tòa) nói: “Bọn Quốc dân đảng để tang Nguyễn Tường Tam”. Thực ra theo Trương Bảo Sơn, hôm đó gần ba chục chính trị phạm có mặt tại phiên tòa đều đeo băng tang, chỉ trừ Phan Quang Đán. Kết thúc phiên tòa, mỗi bị cáo bị kết án 5 năm tù đày ra Côn Đảo.

Thi hài Nhất Linh được an táng tại nghĩa trang Giác Minh, sau được hỏa thiêu di cốt, gửi bình tro tại chùa Kim Cương đường Trần Quang Diệu, quận 3, Sài Gòn.

Trước khi mất khoảng mấy giờ đồng hồ, Nhất Linh còn trò chuyện với con trai, khi người con gợi ý cha viết hồi ký, Nhất Linh đã bộc lộ: “Cậu cũng có ý định viết ba quyển. Cuộc đời làm báo của Nhất Linh, cuộc đời làm cách mạng của Nguyễn Tường Tam và quyển thứ ba cậu viết về hoa  phong lan”.

Ngoài di chúc gồm 71 từ nói rằng cuộc đời ông để lịch sử xử, ông còn dành cho người vợ một lời tuyệt mệnh, với 20 từ rất cô đọng:

“Mình, Mối tình của đôi ta hàng bao năm đẹp đẽ lắm rồi, không… mong ước gì hơn nữa. Anh, Nhất Linh 7/7/1963”.

KHÚC HÀ LINH
Nguồn: Tiền Phong


Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2018

Ngà ngà say cùng “Lục bát phố” của Vũ Thanh Hoa

Tiếp nối nguồn thơ, mạch thơ ào ạt tràn đầy năng lượng của “Nỗi đau của lá”, “Trong em có người đàn bà khác”, “Lời cầu hôn đêm qua”, Vũ Thanh Hoa vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ “Lục bát phố” với chuyên biệt một thể loại thơ, đó là thể thơ lục bát truyền thống. Cái tên sách lạ: Lục bát phố!

Tôi hào hứng đọc và bị cuốn hút theo suốt 46 bài cả tập. Xin nói ngay rằng, lục bát Vũ Thanh Hoa trong tập này toàn những bài hay, mới và lạ, một suối thơ tình dào dạt, khắc khoải, cuồn cuộn chảy, chảy luênh loang, cuốn hút.
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa

Gọi tên người yêu, ấn tượng thứ nhất.

Khi người ta yêu nhau, dù có ở bên nhau cũng thầm nhắc tên người mình yêu bất kể lúc nào. Trịnh Công Sơn “Gọi tên bốn mùa”, Trường Sa “Xin còn gọi tên nhau” và Vũ Thanh Hoa, hình như tên người yêu cũng luôn  ám ảnh chị. Lúc thì chị mượn “gió gọi mong manh” , lúc thì “ký ức êm đềm gọi” và khi thì chính em gọi”. Những “gặp, viết, rơi, vấp, thốt” (động từ), với những “bời bời”, “bất thình lình”, “sẽ sàng”…(tính từ) là những trạng huống khi chị gọi tên người yêu. Có 10 lần Vũ Thanh Hoa trong “Lục bát phố” đã gọi như thế. Cả mười lần gọi, không lần nào giống lần nào, cả mười lần đều khắc khoải nhớ thương, đau đáu mong chờ.
               
Ngay bài thứ hai trong tập - bài “Chợ chữ” chị đã gặp “tên anh trong cảnh này: “Lục tìm vốc chữ ngả vàng/ Giật mình rơi một sẽ sàng tên anh”. Người đọc cũng như sửng sốt cùng chị. Sửng sốt bởi “Chợ chữ”, một tứ thơ lạ, cách diễn đạt lạ, sửng sốt bởi “rơi một sẽ sàng tên anh”. “Rơi sẽ sàng” nhưng sao mà nó nặng thế, ngơ ngác vậy! Vì: “Chợ đông nào có ai chờ/ Buôn bao giờ lãi một ngờ nghệch yêu/ Đong phiêu diêu, trả phiêu diêu/ Nghiêng môi sểnh mắt chín chiều một đau”.
               
Vũ Thanh Hoa còn gọi thế này: Vẽ tình lên bức mành sương/ gọi tên nhau. Vọng lại còn…/ mùa thu” (Ngả nghiêng). “lãng quên/ vấp/ một cái tên/ nhặt mùa thu/ vấp ngả nghiêng/ lá vàng” (Vấp). “gặp nhau giữa những dãy tên/ ngất nga ngất ngưởng lạ quen phập phờ” (Lơ mơ). “Thình lình thốt/ một cái tên/ Nửa ngày ngơ ngẩn/ nửa đêm giật mình” (Nửa mùa). “Tình bay trên sóng chơi vơi/ trôi về khởi thủy bời bời tên nhau” (Tắm). “Buổi chiều chẳng gọi được tên/ chạy xe xuống phố/ điên điên khùng khùng” (Thiêu thân). “Tên anh gió gọi mong manh/ nghe từng vụn vỡ ghép lành mùa xưa” (Trăng bạc). “Xếp đôi cũ nhất ra thềm/ chợt nghe ký ức êm đềm gọi tên” (Đôi giày cũ). “Cất vào riêng góc để dành/ Chữ đầu tiên viết tên anh ngập ngừng” (Khóa chữ).

Chẳng biết ngẫu nhiên hay cố ý mà gọi tên nhau đầu tập thơ ở “Chợ chữ” (bài thứ 2) để đến lần gọi lần thứ 10 lại xuất hiện ở bài “Khóa chữ” (bài áp chót). Cả hai bài đều liên quan đến “chữ”. Từ khi “lục tìm vốc chữ ngả vàng” thấy “rơi một sẽ sàng tên anh” đến lúc quyết định “cất vào riêng góc để dành/ Chữ đầu tiên viết tên anh…” và “khóa chữ” nhốt tên lại! Chẳng biết nhốt tên anh trong tủ, trong rương…hay trong chính trái tim tác giả đa tình để rồi lúc nào đó lại “bất thình lình” “vấp phải” … Thế mới biết tác giả đã yêu da diết đến chừng nào!

Ám ảnh thứ haiyếu tố sex trong thơ.

Tình yêu thường gắn với tình dục. Tình dục là đỉnh cao của tình yêu. Viết về tình dục không dễ, nhất là đối với thơ. Viết sao cho vừa cao sang, thánh thiện lại vừa đời thường, không thô tục, dễ dãi. Vũ Thanh Hoa đã đạt được điều này. Bạo liệt nhưng vẫn kín đáo, cháy bỏng nhưng vẫn dịu dàng. Vừa thoát tục vươn đến cái đẹp lại vừa gần gũi bình dị như cuộc đời vốn thế. Đọc những bài thơ về vấn đề này của Vũ Thanh Hoa, ta cảm thấy yêu người, yêu cuộc sống, trân quý những gì tốt đẹp nhất mà tạo hóa đã ban cho.

Tắt đèn muôn phía tràn đêm/ Mắt em óng ánh êm đềm suối trăng/ trải trên tơ lụa mịn màng/ nuột nà vóc ngọc mơ màng bờ vai” (Đêm vĩnh hằng). Để rồi “lướt môi”, “chân dài”, “tay đan tay”, “vòng ôm cuộn sóng cuốn chìm đam mê”. Rồi thì “buộc nhau vào nửa câu thề/ trói nhau bốn phía lối về mênh mang”… Các động từ “lướt môi”, “đan tay”, “ôm”, “cuộn chìm”, “cuốn sóng”, “buộc”, “trói”, “thả”, “chia”; các tính từ “rùng mình”, “nuột nà”… đã làm sống động hình ảnh cuộc tình đang ở độ mây mưa. Hay như “Đắp cùng nhau một góc chăn/ Ngờ đâu bất tận dấu nằm thiên di”. Đọc đến đây tôi lại nhớ đến Vi Thùy Linh với bài thơ có câu “Khỏa thân trong chăn thèm chồng”  và thấy Vũ Thanh Hoa dữ dội nhưng vẫn kín đáo, ý nhị của người phụ nữ Á Đông.
Bìa tập thơ Lục bát phố của Vũ Thanh Hoa, Nxb Hội Nhà văn 2015

Cuộc tình để lại bao nhớ nhung với những lần gọi tên nhau và đặc biệt là “dấu nằm”. Vũ Thanh Hoa không dưới ba lần nhắc đến “dấu nằm” trong tập thơDấu nằm nghiêng phía lênh đênh/ À ơi…cái ngủ phủ mềm mắt môi” (Ru xa); “đêm trườn qua dải eo thon/ đổ cơn xoáy lốc niêm phong dấu nằm” (Nhất dạ tình). Thế cũng đủ để ám ảnh lắm rồi. Hơi ấm người vẫn còn đây, cuộc tình đêm ấy vẫn còn đây mà bây giờ “qua nhà anh chẳng dám dừng/ trăng xưa lạc giữa ngập ngừng phù vân”.

Bạo liệt, đam mê, cuốn hút nhau đậm chất sexy qua các bài “Đêm vĩnh hằng”, “Ru xa”, Duyên nợ”, “Nhất dạ tình”, “Tắm”, “Du mục”… đặc biệt trong bài “Tắm”. “Nước dâng tới đỉnh khát thèm/ cuốn vào đắm đuối một phen tận đời” để cho “tình bay trên sóng”, “trôi về khởi thủy”, để “chẳng cần biết sẽ về đâu/ cứ vui như thể hôm sau tử hình/ vui như phút cuối hòa bình/ nhỡ mai thế giới thình lình chiến tranh/ xà phòng bong bóng tan tành…”. Dữ dội? Sống gấp? Xin hãy bỏ qua những định kiến khắt khe cùng những giả tạo làm dáng cao ngạo, thì đây mới chính là Đời, là Thực. Đó là cái Đẹp vĩnh hằng mà tạo hóa đã ban cho, xin hãy tận hưởng!

Trong “Du mục”, cũng với tóc, vai trần, mi xanh, với những “vòng ôm”, “ngược về”, “hút vào” nhưng cái phút “dạ cầm so phím giao ân” ấy mới thánh thiện làm sao! Trong 15 câu thơ của bài có 8 câu tả về chuyện làm tình nhưng Vũ Thanh Hoa dùng tới 8 cặp từ láy rất mộc mạc, tài tình: mi xanh du mục mơ màng/ vai trần nghiêng ngả hàng hàng phù điêu/ vòng ôm thành lũy liêu xiêu/ ngược về hoang dại vương triều phục hưng/ hút vào thăm thẳm từ trường/ mơn man cho những vết thương dịu mùa/ phiêu diêu phiên khúc giao thừa/ truân chuyên thanh thản như vừa hồi xuân” (Những chữ in đứng là từ láy).

Tôi thích yếu tố sex trong thơ Vũ Thanh Hoa. Sex trong lục bát khó là thế mà chị vẫn thể hiện được. Kể cũng cao tay đấy chứ!

Ấn tượng thứ ba: Vũ Thanh Hoa đã mạnh dạn làm mới thể thơ lục bát.

Bằng cách ngắt câu, xuống dòng, dùng dấu chấm câu giữa dòng thơ. Điều này nhiều tác giả đã làm nhưng Vũ Thanh Hoa tôi thấy ấn tượng hơn. Có 46 bài thơ trong tập thì chỉ có 18 bài viết theo thể truyền thống (lục trên bát dưới từng cặp một), 18 bài vừa truyền thống vừa ngắt dòng, 10 bài ngắt câu xuống dòng toàn bộ (có dòng chỉ có một từ hoặc hai từ). Trong 18 bài “lục trên bát dưới” thì có bài chị cũng dùng dấu chấm câu ngay trong dòng lục hoặc dòng bát. Tôi đặc biệt thích các bài ngắt câu xuống dòng toàn bộ. Tứ thơ hay, không chỉ về tình yêu mà trong tình yêu là vấn đề xã hội, là trách nhiệm công dân, là làm người, là nhân tình thế thái…

Đó là các bài “Chi chi chành chành” nói về sự “tận cùng”. Tận cùng ngày là đêm, tận cùng đêm là ngày, tận cùng vui “chẳng đánh rơi được buồn”, “tận cùng say/ lại gặp say/ tỉnh ra ngâm ngấm ngây ngây/ dật dờ/ chành chành/ chi/ lắm bất ngờ/ tận cùng muôn sự giả vờ/ gặp…/yêu”. Từ “chi” đặt một mình một dòng thật đắc địa. Nó vừa là chi chi chành chành vừa là thay cho dấu hỏi.

Bài Vấp cũng lả tả chữ như thế. Dòng nhiều nhất có 3 từ, dòng ít nhất có 1 từ. Bài lục bát có 12 câu (6 câu lục, 6 câu bát) được rắc ra thành 43 dòng. Riêng điệp từ “vấp” chiếm tới 11 dòng, trong đó chỉ có một dòng 2 từ (“vấp mãi” nằm ở cái vấp cuối cùng). Sự vấp này thật hay, vấp đủ thứ, vấp toàn những cái hư vô, có có không không. Đây là những cái chị đã “vấp” phải: nửa giấc chiều, nửa cô liêu, kiếp đa mang, vẻ dịu dàng, một cái tên, ngả nghiêng lá vàng, nắng chang chang, hàng lệ cong, thoáng tịnh không, mắt nạ dòng. Chủ thể vấp cũng thật lạ: đêm, sum vầy, phũ phàng thong dong, bão dông, từ em, nhặt mùa thu, mưa dầm, môi cười…đối lập với cái vấp. Để cuối cùng “từ bi/ mấy độ cho vừa/ phận này/ vấp mãi/ chẳng/ chừa…/ phiêu diêu”.

Bài “Nói chuyện với cốc cafe” cũng vậy. “Trên bàn/ thừa/ cốc cafe/ uống vào/ thì đắng/ bỏ về/ thì cay/ Say hôm qua/ đã/ qua say (đảo từ rất hiệu quả, từ “đã” đặt thật đúng chỗ). Bài “Đoản khúc lá” cũng ngắt dòng, tải từ như thế nhưng thêm cả dấu chấm trong dòng chỉ có 4 từ. “sắc/ không/ thiền tịnh. Duyên. Tình/ tiễn thu/ để lá tiễn mình/ và/ rơi…”. Đúng là thu rơi! Chị đã dùng cả Nghệ thuật “tạo hình” đầy hiệu quả!

Hai bài cuối của tập thơ “Lỡ” và “Lục bát @” càng bộc lộ rõ hiệu quả của hình thức ngắt câu, xuống dòng này. Đặc biệt “Lục bát @” với những off, file, save, Insert, cancel, delete, Shut down… toàn ngôn ngữ vi tính, tin học khô cứng mà vào thơ lục bát ngắt dòng của Vũ Thanh Hoa lại mềm mại, uyển chuyển và  thú vị bất ngờ:  Em ngồi sắp xếp chiêm bao/ off mùa hò hẹn/ Save vào/ từng file/ cuộc tình ngắn/ cuộc tình dài/ dư âm/ đồng vọng/ hình hài tình nhân…” để “bây giờ/ Insert/  ngày xưa/  nhớ quên/ Delete/ thiếu thừa/ Cancel/ Bán buôn/ cho trắng/ nỗi buồn/ nợ  nần/ vay trả/ vuông tròn/ Shut down”.

“Lục bát phố” là một tập thơ rất đáng đọc. Tác giả mạnh dạn đổi mới về hình thức, hiện đại từng câu chữ, chắt lọc từng từ và lựa chọn tinh tế từng vị trí để tạo hiệu ứng khác lạ, ám ảnh mà vẫn bay. Tuy thế, vần điệu vẫn đảm bảo làm cho câu thơ tưởng như rời rạc mà lại dính kết nhau, uyển chuyển mượt mà. Tuy vậy, giá như Vũ Thanh Hoa dụng công hơn nữa trong việc chọn vần, để cho một số câu không bị gần vần, trùng vần và linh hoạt trong việc sử dụng vần (không có câu nào dùng vần lưng) thì hiệu quả còn cao hơn nữa.

“Lục bát phố” dùng thể thơ lục bát toàn tập nhưng không cho ta cảm giác đều đều, nhàn nhã mà trái lại rất cuốn hút, rất bất ngờTập thơ này đã chứng tỏ độ chín, sự chiêm nghiệm và lắng đọng của Vũ Thanh Hoa. Xin chúc mừng chị không chỉ “một mình xuôi phố ngược xe/ Phố dưng dửng nắng phố se sẽ buồn” (Lục bát phố) nữa mà là “giấu đi một nụ đa tình/ Ngày xuân mơn mởn thình lình nở hoa/ én bay gần/ én bay xa/ rượu còn chưa cạn bỗng ngà ngà say”(Lục bát xuân). Vâng, tôi đang ngà ngà say cùng “Lục bát phố” với Vũ Thanh Hoa đây!

 ĐỖ XUÂN THU
Hội VHNT tỉnh Phú Thọ



Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2018

Văn Nguyên Lương khởi từ sóng chữ sông quê

Là con của một gia đình nông dân nghèo miền Trung, Văn Nguyên Lương vượt khó học hành và trên con đường gập ghềnh trắc trở mưu sinh anh lấy thơ làm điểm tựa giải tỏa nỗi lòng: “Nhóm ngọn lửa vui bằng củi ưu phiền/ Luôn nở nụ cười trong cơn bão tố” (Nốt trầm). Tập thơ Sóng chữ sông quê của anh do NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2017 là nỗ lực sáng tạo đáng ghi nhận.
Nhà thơ trẻ Văn Nguyên Lương

Hành nghề giáo dục khoa học tự nhiên nhưng Văn Nguyên Lương lại rất yêu văn chương và có năng khiếu sáng tác thơ. Đó cũng là lẽ thường tình của một người con sinh ra ở vùng đất giàu truyền thống thi ca Quảng Ngãi. Ký ức tuổi thơ, nỗi nhớ quê nhà, kỷ niệm tình đầu cùng nỗi truân chuyên khắc khoải trên hành trình phiêu bạt, sự đồng cảm với những số phận bất hạnh là nguồn cảm hứng cho những tứ thơ đầu tiên của Văn Nguyên Lương, đồng thời cũng phát lộ một con đường thơ mới, tâm huyết, có ý thức sáng tạo với những tín hiệu đáng chờ đợi.

Dần dần bước qua những vần thơ nên vần nên điệu, với vốn văn hóa căn bản của một người chịu khó học và đọc, Văn Nguyên Lương tự tin tạo dựng một không gian thơ riêng mình trên cơ sở tiếp nối có chọn lọc tinh thần thi ca của những người đi trước. Trong bài thơ Nơi tôi sinh ra, anh giới thiệu về mình:

“Tôi mở mắt đón ánh sáng cuộc đời
Phía ngọn núi Đồi say nồng giấc ngủ
Dòng sông Thoa chảy dọc tiếng Quảng thiết tha
Hàng cau vẫy tay ngoài ngõ
Bầy chim sẻ ríu rít rủ nhau về làm tổ
Bóng dừa nghiêng nghiêng rơi tiếng chìa vôi”

Lời thơ gần gũi chân thành mà sâu lắng, tinh tế bằng sự kết hợp, liên tưởng hàng loạt thi ảnh giàu sức gợi cảm. Không thấm đẫm hồn quê, tình quê và khả năng biến hóa ngôn từ thì khó mà viết được những câu thơ sinh động như vậy. Tình yêu quê hương sâu nặng trong thơ anh còn thể hiện qua hình ảnh “ngọn đèn dầu thức thâu đêm” của mẹ, “tiếng bài chòi ngoại hát” thay lời ru, dòng sông trăng “gặp nhau trong nỗi nhớ quê” với chị, tiếng ve khóc cười “giục cánh phượng rơi ngời ánh lửa”, “chùm hoa khế ủ hương” vỡ òa kỷ niệm, “ngồi đếm lá nhớ cố hương” những chiều gió lùa… và từ đó anh đi tìm lại bản thể chính mình, với bao Câu hỏi không lời:

“Ai mang tơ buộc loạn tim mình
Câu hỏi gửi trời xanh, biển thẳm
Thanh âm vút lên lúc trầm lúc bổng
Rơi xuống hố thẳm khôn cùng ...
Ai giải giùm ta,
Câu hỏi không lời...”
Tập thơ Sóng chữ sông quê của Văn Nguyên Lương

Tự hỏi rồi tự âm thầm suy ngẫm, mạnh mẽ vươn lên như “loài cây lớn theo chiều thẳng đứng” giữa bầu trời đôi khi “khô héo niềm tin” vì những điều phi lý, như trong bài Tìm anh viết:

“Vắt kiệt giọt sữa cuối cùng
Mẹ mớm tôi tiếng khóc
Mớm cả tiếng cười trong bão táp mưa sa
Tôi như loài cây lớn theo chiều thẳng đứng
Vươn giữa bầu trời học triết lý đường cong
Học cả những điều phi lý...”

Với một người trẻ thì tình yêu lứa đôi bao giờ cũng chiếm lĩnh tâm hồn. Trong tập thơ đầu tay của Văn Nguyên Lương, thơ tình cũng là nguồn cảm hứng chủ đạo kể từ khi anh Vấp tình: “Từ độ vấp ánh mắt em/ Anh chơi vơi giữa cuộc đời mộng mị/ Đắp nỗi nhớ lên giấc ngủ/ Gối đầu về phía không em”. Anh ngơ ngác phát hiện ở người yêu “Ánh mắt dài như sợi chỉ/ Khâu nỗi buồn anh hóa kiếp” để rồi:

“Chợt ngày tím biếc bằng lăng
Đỏ bói chùm phượng vĩ
Chú ve non thức tiếng dậy thì
Giục chúng mình hẹn ước”

               (Bức thư tình đầu)

Hẹn ước rồi lỗi hẹn là câu chuyện muôn thuở của tình yêu. Và có khi vì chuyện lận đận áo cơm đành Lỗi hẹn mà phải trả giá: “Ngày anh về/ Đồi chè xanh tàn úa bên đường/ Em tươi cười trong vòng tay người khác”. Cuống cuồng yêu thương, hờn giận, cách xa, nhớ nhung chia tay, trả giá, đau khổ là lẽ thường tình của những lứa đôi trong cuộc đời này. Và chính sự trong sự khổ đau mà thơ tình đã cất lên tiếng nói, dù biết tình yêu muôn đời là nghịch lý “Biết không còn gì/ Sao vẫn vấp/ Tình ơi…” (Vấp tình).

Như nhiều người trẻ yêu văn chương khác, Văn Nguyên Lương đầu tiên đến với thơ như trò chơi giải trí giải tỏa những u uẩn nỗi tình. Nhưng càng dấn thân vào thế giới thi ca kỳ diệu, anh càng phát hiện vẻ đẹp của thơ và năng lực tiềm ẩn chính mình. Bây giờ thì với Văn Nguyên Lương thơ không còn là trò chơi giản đơn như thả diều, bắn bi, nhảy lò cò của tuổi thơ mà là trò chơi “trời cho” đầy đam mê sáng tạo “đất hứa” chữ nghĩa: “Ta đi tìm vùng đất hứa đời ta/ Chở nắng gió bao mùa cày ải/ Sinh sôi.../ Câu thơ ngập nắng vàng tươi” (An nhiên). Anh cũng hy vọng hành trình thơ của mình, mà khởi đầu là Sóng chữ sông quê, sẽ chạm được “bờ vui” tri âm bằng “tay chèo tràn đầy sinh lực” vượt biển đời cam go thử thách với ước mơ “bừng lên hương sắc tình người”: “Chở đôi thúng chữ/ Vượt biển vô thường/ Cơm áo nửa đường rơi/ Từ bến sông mơ ước/ Ngọn nồm ý chí thổi lộng cánh buồm” (Sóng chữ).

Khởi từ Sóng chữ sông quê, hành trình dấn thân và đam mê của Văn Nguyên Lương hy vọng sẽ còn mang lại nhiều mới lạ khi anh hòa nhập vào biển đời thi ca mênh mông và quyến rũ.

PHAN HOÀNG
(Lời tựa tập thơ Sóng chữ sông quê của Văn Nguyên Lương)



Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Hiện đại mà sâu đậm bản sắc

Trở về Việt Nam, Sư ông sẽ được hít thở mùi lá thông của đồi Dương Xuân, sớm chiều nghe tiếng chuông tiếng mõ…

Có thể gọi sự trở về tịnh dưỡng tại tổ đình Từ Hiếu, Huế của Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở tuổi 93, môn đệ gọi thân thương là Sư ông, vào hạ tuần tháng 10 vừa qua là sự trở về của đứa con nghe tiếng mẹ gọi, cũng là tiếng lòng của Sư ông từ mấy mươi năm trước: Mười năm vườn xưa xanh tốt/ Hai mươi năm nắng dọi lều tranh/ Mẹ tôi gọi tôi về/ Bên bếp nước rửa chân/ Hơ tay trên bếp lửa hồng/ Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống...

Từ nay Sư ông sẽ hít thở mùi lá thông của đồi Dương Xuân, sớm chiều nghe tiếng chuông tiếng mõ, có lúc lỗi nhịp của chú tiểu còn ngủ gật khi đọc kinh... mà bất giác mỉm cười nhận ra chính mình thuở "đồng chơn nhập đạo"!
Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thế cuộc đẩy xô con người đi những cung đường không ai có thể lường trước được, thời vận nước nổi trôi Sư ông cũng không ở ngoài quy luật. Nhưng tha hương bất ly hương, ở xa quê mà không tách biệt với quê, là đặc điểm dễ nhận ra ở Sư ông: Từ phong thái, ánh nhìn lời nói, chiếc áo nâu sồng và nón lá cho đến những dữ liệu đi vào trang viết: vườn cải hoa vàng, con đò bến sông, người mẹ quê... hiện ra chân quê hơn bao giờ hết. Ông yêu biết mấy những đơn sơ bụi chuối hàng cau, quê hương trong trái tim ông tuy "còn dính cát bụi", nhưng "trăng sao vẫn đẹp những đêm rằm" (thơ của Thiền sư).

Môi trường Phật giáo Huế thời của Sư ông nổi tiếng thâm nghiêm, kinh sách toàn bằng chữ Hán lại chịu ảnh hưởng lễ nghi của phong kiến triều Nguyễn... Cho nên cách xưng hô trong chùa cũng "cổ xưa", những: thỉnh, bạch, bẩm, hầu, con, ngài... sử dụng nhiều vô hình trung tạo bức rào trong giao tiếp.
Sớm nhận thấy rào cản ngôn ngữ trong việc đưa đạo Phật đến với quần chúng trẻ tuổi, Sư ông mạnh dạn cải cách. Ông xưng sư huynh sư đệ trong chùa, dùng từ "EM" khi giảng Thiền. Tiếp xúc với Sư ông cảm thấy khoảng cách gần lại, đọc sách của ông thấy học Phật không phải là chuyện cao vời: "Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ... Rồi sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ, và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: "Mẹ ơi, mẹ có biết không?" Mẹ hơi ngạc nhiên, và sẽ hỏi em: "biết gì?" - "Mẹ có biết là con thương mẹ không?"... (tác phẩm Bông hồng cài áo của Sư ông).

Mang ngôn ngữ tươi mát của đời sống hiện thực vào Thiền là một trong những nguyên nhân khiến sách ông trở thành "best-seller". Tựa sách do ông viết như: Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời (Living Buddha Living Christ), Đường xưa mây trắng (Old Path White Clouds)... phát hành đạt con số triệu bản. Nhiều người nhờ thực tập Thiền tỉnh thức (Mindfulness) mà tìm ra phương án cho vấn đề nội tại của mình, những vấn đề văn minh vật chất không giải quyết được.

Là người thể nghiệm năng lượng Thiền học từ nhỏ nhưng Sư ông không coi đạo Phật là tôn giáo số một. Ông khiêm tốn dung hòa đạo Phật trong bối cảnh của thế giới đa sắc tộc đa văn hóa. Nhờ thế mà bước chân hành đạo của ông đi qua cả chục quốc gia, đến đâu ông cũng nhận được sự thân thiện và yêu mến của người địa phương.

Trung tâm thực tập thiền Làng Mai (Plumvillage) do ông thành lập ở nước Pháp có hàng chục ngàn người phương Tây đến thực tập. Các thành phố mà truyền thống Tin Lành, Công giáo đã làm rễ hàng thế kỷ như London, New York... từng in dấu một thầy tu người Việt Nam mảnh khảnh nhưng có thể "mời" hàng ngàn người phương Tây "ngồi tĩnh lặng" (Seat in peace). Nói chuyện với MC truyền hình nổi tiếng thế giới Oprah Winfrey, ông nói "Chúa chính là Phật của phương Tây"!

Theo Sư ông: "Phật giáo luôn luôn có thái độ cởi mở, phá chấp. Không nên bám víu một giáo điều cho đó là chân lý tuyệt đối và để rồi xem các giáo lý khác là tà đạo. Tình yêu trong đạo Phật là “Từ, Bi, Hỷ, Xả.” Xả là "inclusiveness", không loại trừ bất cứ người nào ra khỏi tình thương của mình"... Quan điểm như vậy thổi cơn gió mát vào bầu không khí xung đột về sắc tộc tôn giáo của thế giới hiện đại luôn tiềm ẩn những nguy cơ.

Một phút chánh niệm: Nói về Sư ông những mỹ từ cao đẹp tới đâu cũng là sáo rỗng nếu không thực tập Chánh niệm: "Khi bạn thở chánh niệm tức là chánh niệm về hơi thở. Khi bạn đi chánh niệm tức là chánh niệm vào bước chân. Chánh niệm có thể được đem vào đối tượng của vật lý và tâm lý. Đem đến sự nhận diện và nhẹ nhàng. Sự sống chỉ có thể có mặt trong giây phút hiện tại"...

Tôi nhận ra trong đám mây đang vân du trên bầu trời xứ Huế hay những cánh diều tung bay trên đồng quê xứ Quảng có hơi nước của Biển Đông, mùi rơm rạ của Đồng bằng Bắc Bộ, mùi cỏ lá ở Miền Tây... và khoan thai hình dáng Sư ông: Thở vào tâm tỉnh lặng / thở ra miệng mỉm cười / An trú trong hiện tại / giây phút đẹp tuyệt vời...

TRÚC NGUYỄN
Theo Tuanvietnam




Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2018

Đào An Duyên là: cái ngày thôi nhớ bằng: những ngày đã qua

Lâu rồi mới trở lại Tây Nguyên và cũng từ lâu tôi chưa được đọc thơ của những người sáng tác trên phố núi. Lần này, quả thật may mắn khi gặp Đào An Duyên, cô giáo trên đất Gia Lai tặng tôi tập thơ “Ngày đã qua”của chị. Tập thơ đằm thắm và rất duyên như chính cái tên của tác giả nơi núi rừng Tây Nguyên hùng vỹ mà không kém phần mơ mộng,đôi lúc không bình yên này.
Nhà thơ Đào An Duyên tại Ngày Thơ VN 2017 ở Pleiku, Gia Lai

“Ngày đã qua”của người viết trẻ, nhà thơ Đào An Duyên thực sư lôi cuốn tôi bởi những bài thơ trong xanh man mát hương rừng, bạt ngàn gió núi, có lúc lại thổi bốc lên như cơn lốc cuồng nhiệt của tình yêu, rồi lắng xuống như nốt trầm của bản nhạc không lời, rọi vào nỗi đau của chia li. “Ngày đã qua” để lại ấn tượng đẹp mà lãng mạn tình tứ, khúc chiết với tấm chân tình. Đào An Duyên đã gửi vào “Ngày đã qua”những ký ức một thời lãng mạn, một thời nông nổi, những buồn vui rong ruổi trên suốt chặng hành trình. Chị rời xa làng quê “Thái Bình tự bao giờ,” để đi về phía bóng cây Kơnia, tìm bóng ngả che ngực em mà lôi cuốn người đọc thao thức trước những bài thơ như thay lời muốn nói. Ta hãy đến với Đào An Duyên qua những bài thơ trong tác phẩm “Ngày đã qua” của chị.

Ta đem thơ thả về trời
Thinh không vọng lại một lời trong xanh.

                                 (Độc hành)
               
Trong cái khoảng mênh mông ấy, có một kẻ độc hành phiêu lãng với nửa niềm vui:

Nửa niềm vui cũng sum vầy
Nửa hạnh phúc đủ lấp đầy tim đau
Chợ đời họp chốn mai sau
Buồn vui gửi lại nơi nào nhân gian

                           (Chợ đời)
    
Chị làm thơ cho ai, hay cho mình mà như có điều gì phảng phất một cuộc chia li hình như được báo trước. Nửa niềm vui, nửa hạnh phúc, một phần buồn vui gửi lại chợ đời, chẳng bán, chẳng mua. Và rồi lại hát ru giữa bầu trời hiu hắt,với nỗi buồn lành lạnh bởi từ yêu mà chỉ có nửa vần thôi:

À ơi… ru những mong chờ
Cớ sao con nhện giăng tơ giữa chiều
Lời buồn nhói nửa vần yêu
Rồi thả giữa một phương hiu hắt người

                                  (Ru mùa)

Thơ Đào An Duyên viết trong thời gian“Ngày đã qua” là tự khúc ru mình, cả tháng ngày sinh nhật, đọc thơ chị ta thấy cái thân phận phụ nữ mong manh kể cả trong ngày thu trong xanh, sớt qua chút lạnh, cho ai đó có ngày nuối tiếc:

Cây bàng cuối phố câm lặng
Trút những chiếc cuối cùng
Lá tặng em
Ngày sinh tháng chín

            (Cho ngày sinh)
   
Và rồi:

Người về nhặt lấy ăn năn
Mùa thu cũ mãi xa xăm cuối trời

                                 (Mùa xưa)

Khi Đào An Duyên viết về mẹ, mẹ lắng sâu một hồn quê thân thương diệu vợi, một thân phận đơn côi, một góc vườn tuổi thơ như con ốc, con cua trên cánh đồng năm tháng:

Con ốc nhỏ cuộn vào lòng xa vắng
Tuổi thơ con chân nứt nẻ rạ rơm
Cay xót mắt giọt mồ hôi tháng sáu
Mẹ ở đồng về mùi cơm mới dẻo thơm
...
Và: Trước sông mẹ chiều nay con gặp lại
Chợt xót lòng thương mùa hạ mồ côi

                       (Trở về dòng sông mẹ)

Và rồi mùa đông về, cái lạnh tái tê khi qua hình ảnh mẹ của nhà thơ cũng phải ấm nồng bởi mẹ là người nhen lửa:

Mùa đông mẹ ngồi nhóm lửa
Mắt con cay một triền sông
Mùa này rực vàng hoa cải
Mong manh sợi khói đốt đồng

Rồi:

Mùa đông con về bên mẹ
Nhóm lên kí ức thơm nồng

            (Mùa đông bên mẹ)
               
Những câu thơ trong hai bài thơ “Trở về dòng sông mẹ”và “Mùa đông bên mẹ” đã khắc họa một tấm chân tình, một hình ảnh người mẹ Việt Nam suốt đời tần tảo vì con, dù có buốt lạnh đến đâu, buồn đau đến đâu, khổ hạnh như thế nào khi ta về bên mẹ, như mẹ ngồi nhóm lửa, như ký ức thơm nồng. Ở cái làng quê xưa ấy, chất chứa nhiều kỷ niệm tuổi thơ, chị mang theo thời xa vắng ấy vào với Tây Nguyên, nơi những con đường phố núi ôm ấp nhiều hoài bão, ước mơ trên những bạt ngàn dã quỳ rực vàng như thế, dẫu đêm đã tắt mặt trời. Phố núi mờ sương huyền ảo, nhà thơ viết về vùng “Đất nước đứng lên” với một tình yêu lãng mạn như gió ưỡn ngực trần dốc đứng, đậm chất Gia Lai.

Pleiku đêm rất lạ
Phăm phăm gió ưỡn ngực trần dốc đứng

Để rồi:

Mắt em Biển Hồ thăm thẳm
Thênh thang mời gọi khôn cùng

                         (Về Pleiku)
               
Tất cả cái ngực trần dốc đứng ấy ta hình dung ra một thiếu nữ Tây Nguyên quyến rũ biết nhường nào, họ đi về phía tình yêu mãnh liệt, tha thiết đầy rung cảm, chấp nhận tất cả để yêu. Nhà thơ nhớ đến cái ngày đã qua của một lần Hà Nội, cái ngày đã qua của phố nhỏ riêng em và cái ngày đã qua của lúc chia xa trong đêm Hà Nội. Có những điều không bỏ đường cũng ngọt, câu thơ sóng sánh, sâu sắc ẩn chứa bao điều rung cảm, khiến cho người đọc phải tự liên hệ đến lời yêu thương, những nụ hôn tuyệt tác và ngọt lịm đến lạ thường, chỉ có trong hương vị của tình yêu:

Đêm Hà Nội lặng im trong xanh
Có những điều không bỏ đường cũng ngọt
Em xa rồi anh làm sao biết được
Mưa đưa em về phố nhỏ riêng em
               
                        (Phố nhỏ riêng em)

Cái phố nhỏ ấy không phải là phố nữa, mưa đấy nhưng đâu phải là mưa thật.Phố là em và mưa của nhà thơ như vậy,Nhà thơ đã lượng hóa hình tượng trong cuộc chia tay có một điều gì Hà Nội. Phải nói rằng, Đào An Duyên với thơ tình nó như một liều thuốc an thần vỗ về cho con tim bớt đi thổn thức, bớt đi cái dùng dằng, lắng sâu vào giấc chiêm bao, cho nên thơ tình của chị đằm thắm, không hờn giận và xem như một món nợ đời, bởi tình yêu là duyên nợ, âu cũng là số phận...

Em lỡ một chuyến đò ngang
Tiễn người yêu mình cập bến
Duyên mình em đành lỗi hẹn
Ký vào tim khất nợ tình...

              (Khất nợ tình)

Chính cái duyên nợ ấy mà thơ tình Đào An Duyên lạc quan tình tứ, dù những ngày qua đâu phải mặt trời của em và ánh trăng rằm đẹp đẽ. Chính sự lạc quan yêu đời ấy, nên mới có một Đào An Duyên viết thơ tình đầy cảm xúc lắng sâu, không ngoa ngữ và nhất là không ủy mị. Một cây viết nữ chấp nhận phần đơn lẻ về mình, bởi nhân văn của người cầm bút ở trong cái tâm thi ca của chị. Những khổ thơ dưới đây đã khẳng định sự lạc quan yêu đời ấy, bởi ở đời có biết bao thế hệ học sinh lớn lên luôn dõi theo người đưa đò qua bến xưa. Chị có nhiều bè bạn thấu hiểu, cùng sẻ chia cảm xúc, nỗi niềm buồn vui cùng chị.

Mai em về thành phố sương mờ
Lời hát gửi anh quyện mây giăng núi
Ngàn lời em chưa kịp nói
Hạnh phúc trên tay mười ngón thần tiên

Và:

Đỉnh núi ngàn năm mây trắng lững lờ
Ngọn đèn trong em sáng như chưa bao giờ sáng thế
Không phải ánh hào quang nơi thành phố
Mà ánh sáng thắp lên từ đỉnh núi mây mờ

                                (Phía đỉnh mây mù)

Xin tạm dừng ở đây với đôi lời cảm nhận về một tập thơ hay của một người viết trẻ. Trong cái thời buổi người ta say sưa tìm kiếm tiền bạc, có ít người để ý đến những giá trị nhân văn và có mấy ai dành thời gian đọc hết cả tập thơ. Thế nhưng vẫn có những phụ nữ yêu thơ, làm thơ, điều ấy đã gieo vào tôi cái cảm xúc lạ lùng, bâng khuâng khi đọc thơ Đào An Duyên như vậy. Đây là tập thơ đầu tay nhưng Đào An Duyên với lối viết chắc tay, với ngôn ngữ hình ảnh đa sắc thái, tạo nên sự lắng đọng, in vào tâm khảm người đọc dễ nhớ, dễ nghe, dễ đồng điệu qua cái tâm của nhà giáo dạy văn học. Xin trích những vần thơ của Đào An Duyên thay lời kết cho bài viết này:

Ngày tôi đã yêu anh
Là cái ngày còn mãi
Sỏi cũng buồn khắc khoải
Tự mình lăn vào nhau

             (Ngày đã qua)

Để rồi:

Câu hát cũ lạc đường không tìm thấy
Giấc mơ xưa mây trắng thiên thần
Con sóc nhỏ mắt xoe tròn ngơ ngác
Giữa đồng chiều lặng lẽ nhặt mùa xưa

                     (Mây trắng mùa xưa)                               

Ngày đã qua khép lại rồi. Thời gian đã trôi vào dĩ vãng. Tôi tin rằng ngày mới đang bắt đầu từ ngày hôm nay với Đào An Duyên, thơ chị sẽ có nhiều biến đổi với niềm vui đang chờ phía trước. Âu cũng “là cái ngày thôi nhớ”. Bằng “những ngày đã qua”...
                                 
          Gia Lai - TP Hồ Chí Minh những ngày cuối năm 2016
NGUYỄN VŨ QUỲNH

Theo NVTPHCM



Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2018

Lê Thị Thanh Tâm & Sự thể tất của trí tuệ

Có 2 logic của 2 câu chuyện trong cuộc tranh luận “nên hay không nên để tác phẩm Chí Phèo trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11”.
TS. Lê Thị Thanh Tâm

Câu chuyện thứ nhất, logic về mặt giáo dục: nên chọn cái gì để có tính giáo dục liên quan đến tâm sinh lý học sinh?

Câu chuyện thứ hai, logic về mặt cảm thụ văn học: tôi không chọn tác phẩm này vì nó dở, xấu.

Những người ở hai câu chuyện này đang tranh cãi về hai câu chuyện khác nhau, với logic khác nhau.

Anh Nguyễn Sóng Hiền nói câu chuyện thứ nhất. Và những người phản đối anh Hiền đang nói câu chuyện thứ hai, hoặc giả thiết rằng anh Hiền cũng đang nói câu chuyện thứ hai. Vậy, suy ra, có một logic thứ ba nằm ở giữa là: hễ động đến câu chuyện thứ nhất thì sẽ có câu chuyện thứ hai. Nghĩa là: câu chuyện thứ hai là hệ quả tất yếu, và nghĩa là, không bao giờ có thể giải quyết câu chuyện thứ nhất, và nghĩa là: đi đường nào cũng về La Mã, nói thế nào cũng sai.

Anh Hiền không nói thay các nhà ngữ văn, cũng không “hỗn hào” gì với giới chuyên môn, rằng anh Hiền không có chuyên ngành văn học mà cũng có ý kiến. Anh Hiền được quyền đề xuất và góp ý từ góc độ một nhà nghiên cứu giáo dục.

Sự nhập nhằng đó khiến người trong cuộc “cũng tan nát lòng”. Người nói câu chuyện thứ nhất không mắc cái tội mà người nói câu chuyện thứ hai kết cho, nhưng anh ta phải chịu tội. Còn người nói câu chuyện thứ hai thì tưởng mình đang nói câu chuyện thứ nhất, hoặc cương quyết muốn hiểu câu chuyện thứ nhất thành câu chuyện thứ hai.

Và thế là có hai hệ quả: một cuộc tranh cãi mà ai cũng thấy bị tổn thương. Người yêu văn chương say đắm, nức nở với tâm sự của Chí Phèo, hoặc cảm thấy tâm đắc vô hạn với mô hình cái làng Vũ Đại năm xưa để nhận thức một xã hội đặc thù của Việt Nam thời Pháp thuộc, thời cũ mới đều bi thiết, thì thấy đau đớn như bị xúc phạm và phải lên tiếng rất quyết liệt. Người đang bàn chuyện về sự phù hợp của tâm lí, lứa tuổi khi tiếp cận kiến thức thì bị xem là tội đồ đốt đền, sinh chuyện, non nớt… Câu chuyện đầy sự chia rẽ, chia tay dữ dội này về quyền được yêu và quyền được “không yêu” đã đẩy đời sống học thuật Việt Nam sang một cánh cửa mới - nơi người ta buộc phải đối thoại với nhau một cách đau đớn. Tôi không tin có ai hả hê được trong chuyện này, và chuyện thắng thua lại càng không tưởng. Chỉ có những sự chia rẽ vô cùng sâu sắc về quan niệm giá trị. Cơn bão táp đổ lên tượng đài bấy lâu, có thể tượng đài không đổ, nhưng lộ ra rêu phong của nó bị giấu kín.

Khi Phan Khôi và Nguyễn Thị Kiêm (Manh Manh nữ sĩ) đăng đàn bảo vệ Thơ Mới, có một sự phi logic đến kì lạ. Hai người này nói về Thơ Mới rất hùng hồn, và làm thơ “mới” rất…dở, họ kiên gan dùng cái dở (thơ dở của mình) để chứng minh cái Mới (của thơ mới). Thế mà cái Mới (Thơ Mới) vẫn ra đời, tất nhiên ra đời với một thế hệ tài năng hiếm hoi, nhưng kẻ khai trí vẫn không bị bỏ quên. Trong tiểu luận tài hoa trác tuyệt “Một thời đại trong thi ca” của Hoài Thanh, ông đã hoàn toàn thể tất điều ấy. Vì ông biết rằng, những người lên tiếng động đến một điều rất nghiêm trọng của thơ ca thời ấy. Họ vẫn xứng đáng là những nhà khai sơn phá thạch, vĩnh cửu có tuổi tên trong chặng đường khai sinh Thơ Mới.

Sự thể tất có tính trí tuệ và trí thức của Hoài Thanh cắt nghĩa nền tảng học thuật trước 1945. Đó là sự thể tất rất tự nhiên, bởi khi có thể nhìn trực diện vấn đề và không cần phải bảo vệ một điều gì đó theo thói quen, thì người ta sẵn sàng thể tất. Đó là thứ phóng khoáng có được từ một tinh thần tự do nhận biết, chịu trách nhiệm về sự nhận biết của mình.

Anh Nguyễn Sóng Hiền đã viết một bài đề xướng đưa tác phẩm Chí Phèo ra khỏi chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11. Đó là một mệnh đề có vẻ gây thách thức, nhưng đằng sau nó là cả một sự thật sống về những cái đang bị dồn nén và ứ đọng trong giáo dục, cảm thụ văn học.

Anh Hiền đề xuất khá giản dị và lập luận hơi chủ quan, có phần mộc mạc, nên “nhận được” một sự chống đối không thể lớn hơn, như thể cả một xã hội nổi lên cuồn cuộn, thương tiếc anh Chí đến trào nước mắt. Nhưng nếu nhìn trực diện vấn đề của cảm thụ văn học đối với lứa tuổi và sự chênh, độ chênh (không thể không có) giữa việc tôn vinh tác phẩm Chí Phèo, dạy Chí Phèo cách đây mấy chục năm, đến việc điều chỉnh lại cách hiểu, cách cảm nhận Chí Phèo trong thời kì đương đại của thế kỉ XXI thì chắc rằng, một sự thể tất tự nhiên là hoàn toàn có thể - thể tất cho cách nói đầy sơ hở của một nghiên cứu sinh đang có sự suy nghĩ tâm huyết cho nền giáo dục nhưng chưa thể “kín kẽ”, giàu “kinh nghiệm chinh chiến” như các đấng bậc ở quê nhà.

Ý kiến đề xuất của anh Hiền, tôi muốn nhấn mạnh, là một trường hợp khoa học cần suy nghĩ chính đáng và nghiêm túc.
Hình ảnh Chí Phèo đến nhà Bá Kiến trong phim Làng Vũ Đại ngày ấy

Tôi tìm lại năm câu hỏi hướng dẫn học trò hiểu về tác phẩm Chí Phèo, bao gồm:

Câu 1: Cách vào truyện độc đáo của Nam Cao và ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo.

Câu 2: Ý nghĩa cuộc gặp gỡ giữa Thị Nở và Chí Phèo và diễn biến tâm trạng của Chí Phèo.

Câu 3: Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối chung sống.

Câu 4: Nghệ thuật điển hình hóa nhân vật đặc sắc và tư tưởng nhân đạo của Nam Cao.

Câu 5: Đặc sắc trong ngôn ngữ kể chuyện của tác giả và ngôn ngữ nhân vật.

Trước hết, cần phải nói rằng, không bao giờ có một cuộc chia li vĩnh viễn giữa cảm thụ văn học thuần tuý và cảm thụ văn học từ góc độ tâm lí lứa tuổi. Không ai có thể từ bỏ quy luật này, nếu từ bỏ nó thì giáo dục chẳng còn ý nghĩa bao nhiêu hoặc rất chông chênh. Vì thế, với mỗi câu hỏi trên, sẽ có cách giải thích kết hợp cả các mức độ, khía cạnh cảm thụ.

Về mặt cảm thụ văn học thuần túy, học sinh hầu hết sẽ trả lời các câu hỏi này một cách khá suôn sẻ, vì giáo viên sẽ hướng dẫn họ. Ngoài ra, câu 4 và câu 5 là hai câu hỏi hay, hoàn toàn không có gì để lo lắng, vì đó chính là biệt tài, là di sản khổng lồ của Nam Cao, đáng để học sinh học tập và hiểu thêm (dù khá khó).

Về mặt tâm lý lứa tuổi, trừ những em đặc biệt giỏi hoặc nền tảng nhận thức tốt, đặc biệt là nhận thức hư cấu nghệ thuật (tôi chắc rằng không thể là 100%) thì các em còn lại sẽ phải đối mặt với một hiện thực vô cùng méo mó và ghê rợn (từ câu 1 đến câu 3). Sau đó, các em ấy sẽ trấn tĩnh và hiểu rằng, đằng sau sự méo mó ghê rợn đó là một tâm hồn cao thượng của nhà văn, thương yêu những người dưới đáy xã hội, những người rất mong muốn làm người lương thiện.

Các em ấy sẽ cố nhớ sự cắt nghĩa này để làm bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết, thi học kì và thi đại học. Còn bản thân các em sẽ làm quen dần với những mệnh đề như: tiếng “chửi” xã hội rất có ý nghĩa, Thị Nở và Chí Phèo gặp nhau như một cặp “vừa đôi”, rồi các em sẽ ngạc nhiên sao giọng văn nhà văn bỡn cợt lạnh lùng đến thế, và rồi tiếp tục yên tâm là cô giáo nói, giọng văn (một khái niệm rất khó tư duy ở độ tuổi 16, 17) ấy thể hiện một sự cảm thương vô hạn.

Rồi khi Chí Phèo bị từ chối chung sống với Thị Nở thì tâm lý của nhân vật trở nên biến động dữ dội dẫn đến những cái chết rất thê thảm, các em học sinh tuổi hoa niên sẽ được nhắc nhở rằng Chí Phèo giết Bá Kiến không phải vì say rượu đâu, mà vì hắn nhận ra bi kịch cuộc đời và tuyệt vọng cùng cực. Một học sinh ở tuổi 17 (khung tuổi dễ bị trầm cảm và kích động) có chỉ số IQ và EQ bao nhiêu thì sẽ hiểu rằng: khi tuyệt vọng cùng cực, người ta không nên hành động như Chí Phèo? Nên nhớ, cái vô thức cũng vẫn tham gia chỉ đạo hành xử con người không thua kém ý thức là mấy. Chí Phèo đi vào vô thức - đó là điều đáng nghĩ.

Tôi chỉ làm một phép tính giả thiết đơn giản. Một lớp học có 50 em, tôi “thể tất” cho rằng 49 em đã hiểu trọn vẹn, hiểu sâu sắc, viết hay như người nghiên cứu, (lớp học trong mơ) sau khi được giáo viên “khai thị” thì vẫn còn 1 em rất khó khăn để… quên đi mọi cảm xúc, ấn tượng có phần “ghê rợn” mà tác phẩm mang lại. Một em đó nhân với bao nhiêu em nữa của mỗi lớp, và của cả nước?

Người làm giáo dục hoàn toàn có quyền đặt ra câu hỏi đó. Không có một quyền uy tối thượng nào không cho phép người ta suy nghĩ và giả thiết như thế. Người trí thức làm sang cho nhau bởi giúp nhau suy nghĩ, người ta cần phải suy nghĩ liên tục để tạo một môi trường nghĩ ngợi cho nhau và vì sự nghĩ ngợi mà đi xa hơn trong sự hồi âm chân thành về lý tưởng.

Nếu như cảm thụ văn học tách rời khỏi tâm lý học đường (tôi nhấn mạnh là tâm lý, không phải sự yêu thích thông thường hay khả năng cảm thụ) thì đó chỉ là câu chuyện của giới văn chương. Ở đây là câu chuyện của học sinh. Các em cần được chăm sóc cả về nhu cầu thẩm mỹ, nhận thức và cả sự sợ hãi, lo âu, bế tắc. Các em cần được hình dung như những con người bình thường và đi qua thời trung học như một kỉ niệm của những ngày tháng tốt đẹp, trong lành (không có nghĩa là nhạt nhẽo), chứ không phải những người sẽ thành các nhà bác học về văn chương, hiểu được cả sự sâu xa của làng quê Vũ Đại ngày ấy để… làm hành trang vào đời (!) với khung năng lực mới của kĩ năng thế kỉ XXI.

Khai phóng, lấy học sinh làm chủ, đổi mới giáo dục, những chủ đề đó, định hướng đó chắc chắn không phải đi liền với việc đưa "Chí Phèo" ra khỏi sách giáo khoa, nhưng nó được phép đặt lại câu chuyện về tâm lý giáo dục trong tiếp nhận văn học - tôi nhắc lại, nó được phép, được quyền - mà Chí Phèo là một “trường hợp nghiên cứu điển hình”. Chí Phèo là một ví dụ.

Một em bé 9 tuổi có thể tự đọc sách Những người khốn khổ của Victor Hugo (chính là trường hợp của tôi). Nhưng tác phẩm ấy, để được học và học được, cần đến 10 năm sau hoặc lâu hơn. Đọc sách, yêu và cảm thụ văn học là một chuyện khác hoàn toàn việc phổ cập giáo dục một tác phẩm, vì tác phẩm trong sách giáo khoa là một chiến lược tác động sâu rộng, gần như không có cơ hội để hối tiếc.

Tác phẩm văn học tất yếu không xui khiến người ta làm theo nó, vì nghệ thuật nói chung không phải là thông điệp hành động theo nghĩa đơn giản thô sơ (nghệ thuật là thông điệp của sự lắng đọng và sự ước lượng lại ý nghĩa đời sống), nhưng tác phẩm văn học “chuẩn bị” cho hành động. Xin đừng nói đấy là “xã hội học dung tục” hay “giáo dục học dung tục”, mà đó là nguyên lý của sự tiếp nhận văn học, là sự thật của yếu tố tác động xã hội mà nền văn học nào cũng có.

Ai biết được, trong sự “chuẩn bị” ấy, có cả những thứ bóng tối mà các em đã được biết đến quá sớm và quá khốc liệt, trong khi bối cảnh xã hội và định hướng giáo dục quốc tế đã thay đổi hơn cả thế kỉ. Dạy Chí Phèo trong thời chiến là một sách lược có ý nghĩa. Dạy Chí Phèo thời hậu chiến cũng có thể vẫn còn nhiều cảm xúc. Dạy Chí Phèo trong bối cảnh hiện nay, khi số lượng du học sinh mỗi năm tăng vùn vụt, người sống đã bớt nhu cầu “yêu, căm, chiến, lạc” và có nhu cầu thưởng thức một cuộc sống bình an, hạnh phúc trong tâm hồn thì việc giảng dạy ấy vẫn rất đáng để suy nghĩ, nghĩ đi và nghĩ lại.

Trong những kĩ năng mới của người trẻ bước vào thế kỉ toàn cầu, có mấy kĩ năng rất khó dạy, đó là kĩ năng hợp tác và chịu trách nhiệm về bản thân. Bình thường đã khó để dạy, lại thêm một hình tượng văn học sừng sững kia, có bao nhiêu em học sinh vượt qua sự trải nghiệm của anh Chí để dự cảm rằng, tiếng than vãn khẩn thiết “Ai cho tao lương thiện” sẽ còn có thêm nhiều ý nghĩa khác, ngoài ý nghĩa tố cáo tận cùng một xã hội đau thương và bế tắc.

“Ai cho tao” tức là tao có quyền đòi hỏi, không được thì tao giết? “AQ chính truyện” của Lỗ Tấn là sự phê phán nhược điểm quốc dân tính Trung Hoa. Còn Chí Phèo của Nam Cao được ưu ái vô hạn, mặc dù khoác lên mình nhiều thứ căn tính “bây giờ đang nhan nhản khắp nơi ở xã hội Việt Nam” nhưng được hiểu theo hướng “chủ nghĩa cảm thương”. Đó là sự khác biệt về tầm vóc.

Phê phán chính dân tộc mình qua hình tượng văn học hoàn toàn không giống phê phán cái gì đó bên ngoài để làm nguội hết sự phê phán dân tộc, biện minh cho sự phê phán. Sự khác biệt căn bản này khiến Chí Phèo chỉ có thể được vinh danh trên thế giới với tư cách là … “một bản sao hơi giống AQ” và mang đặc sản Việt Nam chứ không phải là một sáng tạo kiệt xuất của loài người.

Dạy Chí Phèo ở đại học là một lựa chọn chuẩn xác, khi người học đã qua tuổi 18 và được nâng đỡ một cách chín chắn bởi nền tảng vốn sống, vốn chữ nghĩa đã phần nào đủ để nhìn ra Chí Phèo như một tác phẩm có giá trị mà không bị bất kì một sự ám ảnh non thơ nào. Năng lượng của tác phẩm Chí Phèo cần được phát tiết nhiều hơn ở những vỉa tầng sâu sắc hơn, va đập với hiện thực mới nhiều hơn, và tạo ra những ẩn nghĩa thú vị hơn theo những cách đọc chuyên nghiệp, thậm chí từ góc độ so sánh văn học thế giới. Còn học sinh phổ thông đại trà, trước khi theo được những cách đọc chuyên nghiệp và tròn trĩnh, đọc trang nào cũng rưng rưng nước mắt như những người yêu văn chương, thì họ còn có thêm gánh nặng về một anh Chí bị bóp nát và uốn lượn đủ kiểu để nói cho được “số phận người nông dân bị lưu manh hoá”.

Bênh vực Chí Phèo không khó, nhân vật này càng đau khổ bao nhiêu trong thế giới hư cấu của Nam Cao thì càng có đời sống phong lưu, ngạo nghễ bấy nhiêu trong sự tiếp nhận suốt mấy chục năm qua ở Việt Nam. Nhưng đặt lại và tìm hiểu lại (dù nhức nhối) cái ảnh hưởng có thật của Chí Phèo trong đôi mắt trong suốt của người học thời nay thì không phải ai cũng muốn làm, hoặc dám làm.

Khép lại câu chuyện, tôi đặt câu hỏi: Người bàn câu chuyện thứ hai (như tôi nói ở trên) có đang chắc rằng họ đang bàn câu chuyện thứ nhất không? Nếu họ đang thực sự nói câu chuyện thứ nhất, thì một sự thể tất để có một tiếng nói tranh luận phong nhã là điều hoàn toàn có thể.

Lo lắng “mất” Chí Phèo cao hơn cả sự lo lắng cho cách tiếp nhận và hệ quả tiếp nhận của học sinh - điều đó nói lên một thực tế gì trong não trạng giáo dục? Thực tế thì, Chí Phèokhông bao giờ “mất”, một tác phẩm vĩ đại thế sao có thể mất, còn nhân cách học sinh có thể bị “chuyển biến” mà không ai hay. Và những người dạy học, sau khi “cháy hết mình” trong lớp học, trong tác phẩm, đã về nhà yên nghỉ như “người nông dân cày xong thửa ruộng của mình”, lòng phơi phới vì đã truyền đạt “cái đẹp của văn chương” đến cho các em học sinh thân yêu, thì có bao nhiêu tâm hồn thơ trẻ đang hồi hộp lo âu hoặc lãng quên vĩnh viễn một anh Chí không mấy ăn nhập với đời sống hiện tại.

Có thể sau cuộc tranh luận này, Chí Phèo vẫn được giới chuyên môn trân trọng đặt nằm yên trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11, và cách giảng dạy có thể sẽ khác đi phần nào (như là mở rộng “Chí Phèo trên các trường đại học thế giới” chẳng hạn…). Điều đó chưa quan trọng bằng sự việc: đầu thế kỉ XXI, một cuộc tranh luận có thật về một tượng đài văn học hiện thực phê phán đã diễn ra ở Việt Nam.

Cuối cùng thì Chí Phèo của Nam Cao cũng được thoát ra khỏi chiều ca ngợi để đối thoại với chiều đa diện, một bước tiến và vinh dự lớn dành cho anh Chí năm nào, vốn chỉ được “nuông chiều” trong cái làng nhỏ cũ kĩ. Cuộc sắp xếp và thử sức vĩ đại này có thể sẽ mang tên tuổi Nam Cao đi xa, bay cao hơn cả những đỉnh cao mà người ta nghĩ, hoặc trở về với “một sự thật khác” của giá trị. Đằng nào cũng rất tốt đẹp cho các bên tranh luận, vì Sự thật vẫn là thứ có đời sống trường cửu, hơn mọi sự vinh danh ngọt ngào.

 LÊ THỊ THANH TÂM
Theo VNN

__________________________

Nhà thơ, nhà lý luận phê bình Lê Thị Thanh Tâm sinh trưởng ở Cần Thơ, tiến sĩ văn học, từng giảng dạy tại Khoa Văn học và ngôn ngữ Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang giảng dạy tại Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Lê Thị Thanh Tâm làm thơ từ thời học sinh, sinh viên và sau này chị còn nghiên cứu văn học Việt Nam, Nhật Bản...


Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

Trần Xuân An ngẫu hứng đọc thơ

Trần Xuân An chủ định viết phê bình như một người sáng tác hơn là một nhà khoa học, mặc dù khi cần “nói có sách, mách có chứng”, anh cũng dẫn giải và chú thích cặn kẽ như khi anh nghiên cứu các nhân vật lịch sử. Dõi theo mạch thơ của thi sĩ, anh cũng đồng thời đuổi theo những ý nghĩ miên man của mình về tình yêu, cuộc sống, con người và văn chương…
Nhà thơ Trần Xuân An

Mặc dù có thơ đăng báo từ ngày còn chiến tranh, tuổi văn chương của Trần Xuân An có thể tính bằng tuổi hoà bình của đất nước. Năm 19 tuổi, nhìn quê hương đổi thay với một cái nhìn nửa mừng vui, nửa ngơ ngác, Trần Xuân An nói lên lời tự bạch chân thành:

                               Sinh ra, lớn lên ở thành phố miền Nam
                               Gia đình tôi chưa có ai đi làm cách mạng
                               Dầm mình trong quên lãng
                               Buổi cờ bay, mới biết có nhân dân.
                                                             (Tôi hiểu tôi đã yêu em…)

Đó có lẽ không phải là lời tự bạch của riêng anh. Đó cũng là lời tự bạch của một lớp người trẻ không mang hành trang nặng nề của quá khứ, không mặc cảm rằng mình là một “thế hệ bỏ đi”, đem tâm tình hiến dâng hoà giải và hoà nhập với cuộc đời mới, dù chưa hình dung thật rõ những gì sẽ chờ đợi tuổi trẻ mình trên con đường trước mặt. Trần Xuân An tiếp tục chương trình đại học, ra trường làm thầy giáo ở một thị trấn vùng cao nguyên, đồng thời viết văn làm thơ và xuất hiện ngày càng nhiều hơn trong sinh hoạt báo chí và văn nghệ. Đến nay anh đã cho xuất bản bảy tập thơ và bốn tác phẩm văn xuôi, trong đó – gần đây nhất – được dư luận đăc biệt chú ý là bộ truyện lịch sử bốn tập gần ngàn trang Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường. Đó là chưa kể hàng chục sáng tác và công trình biên khảo mà anh đã hoàn thành trong những ngày làm người trí thức hành nghề tự do ở ngoài biên chế hiện nay.

Cuộc sống những tháng năm tuổi trẻ và một thiên hướng trong tư duy đã hình thành trong tác phẩm Trần Xuân An một cảm hứng xã hội rõ nét. Con người trong thơ văn anh có nhiều chiều kích, nhưng nét nổi bật nhất vẫn là sự trăn trở và thao thức trước những biến động lịch sử. Có thể thấy rõ ở đây dấu ấn của một không gian văn hoá miền Trung Trung bộ để lại trong tâm thức của một người làm văn nghệ, tuy đã trôi dạt qua nhiều miền đất, nhưng cái nếp nghĩ và chất giọng quê nhà không hề phai nhạt. Hình như những gì anh đã chứng kiến trong những khúc quanh nghiệt ngã của xã hội đã giúp anh cảm nhận được đầy đủ hơn số phận con người trong những biến thiên lịch sử ngay cả ở những thời điểm mà anh chỉ có thể tiếp xúc gián cách qua những trang tư liệu.

Mạch nghĩ và mạch văn đó vẫn tiếp tục chi phối Trần Xuân An khi anh cầm bút viết phê bình. Đành rằng, như anh nói, đây chỉ là những trang “ngẫu hứng”, nhưng có ngẫu hứng nào thoát ra ngoài quy luật, có ngẫu hứng nào không mang dấu vết của định mệnh? Nội việc anh chỉ chọn chín nhà thơ trong tập này để bình phẩm và ngợi ca cũng là một minh chứng cho cái không gian văn hoá mà anh gắn bó và cái thiên hướng văn chương mà anh theo đuổi. Đó là những nhà thơ mà trước khi thơ họ có một số phận để ta chiêm nghiệm, bản thân số phận họ đã không thể khiến ta thờ ơ. Trần Xuân An không quá nệ vào tính phổ cập của thơ họ, càng không nệ vào chuyện chiếu trên chiếu dưới trong văn chương. Ai cũng hiểu rằng giá trị trong văn chương thường không phải giá trị tự nó, mà là giá trị cho ta, giá trị đối với anh, giá trị qua mắt nhìn của chị, giá trị trong cảm nhận của tôi. Viết phê bình, không hẳn Trần Xuân An không chú ý chuyện hay dở, nhưng đó không phải là điều quan tâm hàng đầu của anh. Điều mà ngòi bút anh ưu tiên nhất khi nói về những nhà thơ  anh yêu mến là những ý tưởng mà tác phẩm của họ gợi lên về đời người và người đời, tất nhiên là gợi lên bằng những thủ pháp nghệ thuật. Cho nên nói cho cùng, ngẫu hứng mà không hề là ngẫu nhiên, ngẫu hứng mà không hề là vô cớ!

Tôi đặc biệt đồng cảm với hai bài viết của Trần Xuân An về Hoàng Phủ Ngọc Tường và Tần Hoài Dạ Vũ tuy không hẳn chia sẻ tất cả ý kiến và nhận định đôi khi chưa thật uyển chuyển của anh. Trước hết là vì, cũng như anh, tác phẩm của hai nhà thơ dấn thân này đã đi vào kỷ niệm một chặng đời của tuổi trẻ tôi. Thứ hai, điều quan trọng hơn, theo cảm nhận của tôi, đây là hai nhà thơ mà cuộc đời và tác phẩm có thể làm chứng một cách trung thực cho sự tìm đường, niềm xác tín nghệ thuật, sự cả tin và thái độ tự vấn của người nghệ sĩ dưới xã hội miền Nam trước đây cũng như, nói chung, trong những biến thiên của đời sống dân tộc mấy thập kỷ qua. Tất nhiên, thơ họ là tâm tình của họ, nhưng nó cũng là một thứ chứng từ của thời đại. Có điều, đòi hỏi thơ phải phản ánh hiện thực một cách chân thực hay nhà thơ phải nhớ lại những địa danh và tuyến đường cụ thể thì có lẽ không phải là một yêu cầu nhất thiết phù hợp với đặc trưng của thể loại.

Trần Xuân An chủ định viết phê bình như một người sáng tác hơn là một nhà khoa học, mặc dù khi cần “nói có sách, mách có chứng”, anh cũng dẫn giải và chú thích cặn kẽ như khi anh nghiên cứu các nhân vật lịch sử. Dõi theo mạch thơ của thi sĩ, anh cũng đồng thời đuổi theo những ý nghĩ miên man của mình về tình yêu, cuộc sống, con người và văn chương. Phê bình văn học của Trần Xuân An, cũng như văn xuôi lịch sử của anh, vì sự tràn đầy của nó về mặt nội dung, nên có khi người đọc phải kiên nhẫn để nắm bắt sự mạch lạc nội tại của cả hai dòng mạch đó.

Tháng 4.2005
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

___________________________________

Nhà thơ Trần Xuân An sinh ngày 10.11.1956 (08.10 Bính Thân) tại Huế.
Nguyên quán: Gio Linh, Triệu phong, Quảng Trị. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Việt, Đại học Sư phạm Huế (1974 – 1978). Dạy trung học cơ sở và trung học phổ thông tại Lâm Đồng, 1978 – 1983. Từ 1991 đến nay, thường trú tại TP.HCM, chuyên sáng tác, nghiên cứu. Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM.

Tác phẩm đã xuất bản:

I. Thơ:

1. Nắng và mưa, tập thơ, Hội VHNT. Quảng Trị xuất bản, 1991.
2. Hát chiêu hồn mình, tập thơ, Nxb. Đồng Nai, 1992.
3. Tôi vẫn ở trên đường, tập thơ, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 1993.
4. Lặng lẽ ở phố, tập thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
5. Kẻ bị ném vào bão, tập thơ, Nxb. Trẻ, 1995.
6.Hát với đời ơi thương mến, tập thơ, Nxb. Trẻ, 1996.
7. Quê nhà yêu dấu, trường ca thơ, Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 1998.
8. Thơ những mùa hương, tập thơ, Nxb. Thanh Niên, 2011. 
9. Tưởng niệm Mẹ, tập thơ tự tuyển, Nxb. Thanh Niên, 2010.
10. Thơ sử và những bài thơ khác, tập thơ, Nxb. Thanh Niên, 2011.

II. Tiểu thuyết:

11. Có một nơi lá mãi xanh, tiểu thuyết, Nxb. Hội Nhà văn, 1999.  
12. Ngôi trường tháng giêng, tiểu thuyết, 1998, Nxb. Thanh Niên, 2003.
13. Sen đỏ, bài thơ hoà bình, tiểu thuyết, 1999, Nxb. Thanh Niên, 2003. 

III. Nghiên cứu, khảo luận:

14. Thơ Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (biên soạn – nghiên cứu, phản bác, và tập hợp một số bản dịch, bài khảo luận văn học và sử học về NVT.), 2000 & 2003, Nxb. Thanh Niên, 2008.
15.Tiểu sử biên niên phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường – kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa thực dân Pháp (từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001, Nxb. Thanh Niên, 9-2006..
16. Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), một người trung nghĩa, khảo luận và phê bình sử học, 2002 & 2003, Nxb. Thanh Niên, 9-2006.
17. Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập, 2002 – 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2004.

IV. Phê bình & bình luận:
18. Ngẫu hứng đọc thơ, phê bình thơ, 2003; Nxb. Văn Nghệ TP. HCM., 2005.
19. Đọc văn chương và cảm nghĩ, phê bình, viết ngắn & điểm sách, Nxb. Thanh Niên, 2009.

B. Giải thưởng, tặng thưởng:

1. Tặng thưởng tuần báo Văn Nghệ Giải Phóng, 1975.
2. Giải thưởng Hội VHNT Quảng Trị, 1991.

C. Quan niệm văn học:

Nói riêng về lĩnh vực sáng tác: Nhà văn chương chuyên về lĩnh vực sáng tác, từ khi sáng tác trở thành một loại hình lao động chuyên nghiệp và trọn đời cho đến nay, không phải là người giam mình trong sách vở, kinh điển. Nói như vậy, với hàm ý rằng: Ngoài tri thức kim cổ được truyền thụ và tự học, chúng ta cần phải trải nghiệm, tích lũy vốn sống sinh động, cụ thể, trực tiếp, để thấu hiểu mình và thấu hiểu người, thấu hiểu đời, thấu hiểu đất trời. Nhưng quyền trải nghiệm của nhà văn chương được quy định bởi cái tâm. Vốn sống và cái tâm lương thiện với lẽ sống chân chính, cùng với tài năng, góp phần làm nên cái tầm vóc văn chương của mỗi nhà cầm bút. Văn chương từ ngàn xưa cho đến muôn đời sau vẫn không thể thiếu một trong ba thành tố cổ điển (chuẩn mực), đó là chân, thiện, mĩ. Và dĩ nhiên, phong cách, cá tính nghệ thuật – tư tưởng cùng với sự riêng biệt về thân phận, thành phần xã hội làm nên nét đặc sắc. Tôi muốn nói gọn hơn: Văn chương phải THẬT, phải TỐT, phải ĐẸP và phải ĐẶC SẮC.

Văn chương khi đã cho lưu hành giữa đời là VÌ ĐỜI, trong đó có bản thân mình; thậm chí viết về cái tôi thì cái tôi ấy cũng là hình tượng trữ tình, và đăng báo, xuất bản tác phẩm chứa đựng hình tượng trữ tình của cái tôi cũng vì đời.

Ngoài sáng tác thơ, tiểu thuyết, tôi còn viết bình luận, phê bình văn chương và nghiên cứu sử học, nhưng đây chỉ giới hạn trong lĩnh vực sáng tác văn chương.

Theo NVTPHCM




BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...