Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2019

Nhà văn Phan Hoàng miêu tả 'Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra'

Mới đây nhà văn Phan Hoàng đã cho ra mắt độc giả cuốn sách về mảnh đất anh đang sinh sống với tựa rất ‘khêu gợi’ "Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra".
Nhà thơ Phan Hoàng với bạn văn trẻ Sài Gòn:
Xuân Tiến, Nguyễn Phong Việt, Khánh Dư, Ngô Thuý Nga

Viết về tập sách mới của nhà văn Phan Hoàng, nhà thơ- nhà báo Lê Minh Quốc dùng những lời rất ‘ngọt ngào’: “Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra” là tập sách mới nhất của Phan Hoàng. Cũng phải thôi, những người tứ xứ đến lập nghiệp, như Phan Hoàng chẳng hạn, đã đến lúc viết cái gì đó về vùng đất này. Một địa danh của tình cảm gắn bó. Một không gian sống để thành danh như hôm nay. Âu cũng là tình là nghĩa của một nhà thơ đã tự nhủ: “Với Sài Gòn - vùng đất không phân biệt gốc tích xuất thân, nếu chịu khó làm việc, sống nghĩa tình với nhau thì ai cũng có thể làm tốt công việc mà mình yêu thích. Và tôi, một trong số những người đó. Không chỉ là quê hương thứ hai cưu mang, nâng cánh cho mình mà tôi yêu thành phố này còn vì những con người tài năng, hào hiệp, nghĩa tình mà thế hệ nào cũng nổi lên những hình ảnh đáng trân trọng”.

Vâng, trong tập sách này thêm một điều khiến ta cảm tình với Phan Hoàng còn là những tên tuổi, những ân nhân, những đồng nghiệp mà anh đã từng gặp gỡ từ những ngày đầu tiên đến với Sài Gòn. Anh nhắc lại sự ân tình. Có trước có sau. Có thủy có chung. Nào riêng gì anh, nhiều người thành danh cũng chọn lấy phép ứng xử ấy.

Hãy cầm lấy Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra và chia sẻ tiếng lòng của Phan Hoàng đã nói hộ cho nhiều người: “Thành phố lớn nhất đất phương Nam ẩn chứa nhiều bất ngờ thú vị và có sức hấp dẫn lớn, luôn dung nạp, cảm hóa, tạo bệ phóng cho những tài năng dựng nghiệp. Nhất là những người sa cơ thất thế. Thành phố này cũng là nơi mở đầu cho nhiều chương trình hoạt động xã hội từ thiện có sức lan tỏa rộng lớn trên tinh thần nghĩa hiệp “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” của Lục Vân Tiên”...  Ấy cũng là tinh thần xuyên suốt của tập sách này.

Bên cạnh đó, Phan Hoàng còn viết về “cổ tích” của Sài Gòn qua các giá trị văn hóa, những đổi thay thăng trầm năm tháng. Thật ra vấn đề này nhiều người đã viết, và sẽ còn tiếp tục viết nữa nhưng ở đây Phan Hoàng đã chọn cho mình một cảm hứng là thổi vào đó cảm xúc của thơ, của cái nhìn nhà thơ. Nhờ đó, cũng cùng vấn đề nhưng qua cái nhìn của anh, nó đã có một sắc thái mới và đậm dấu ấn cá nhân.

Khi hay tin Phan Hoàng ra sách mới (và cũng như các bạn văn khác), tự lòng tôi bao giờ cũng có tiếng reo vui. Tiếng reo ấy là đã bắt gặp đồng điệu của những con người lao động miệt mài cùng con chữ. Những người say mê làm việc và luôn có sách mới, tự họ cũng là một sự thôi thúc cho chính mình vậy.”

Chia sẻ cảm hứng về mảnh đất nơi mình sinh sống, lập nghiệp, và là chủ đề của tập sách mới ra đời, nhà văn Phan Hoàng nói: “Có thể nói đất và người Sài Gòn luôn tiềm ẩn nhiều điều kỳ lạ, nhiều “quái kiệt” tài năng, đã trở thành niềm cảm hứng vô tận cho tôi trên trang báo lẫn thi ca.”
 'Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra' và ‘Sài Gòn đất làm chim đậu’ của Phan Hoàng

Xin giới thiệu trích đoạn Sài Gòn ngọt từ da thịt ngọt ra của tác giả Phan Hoàng. Sách do NXB Văn hóa - Văn nghệ ấn hành, tới tay bạn đọc đúng dịp đầu năm mới Mậu Tuất 2018.

“Người  Sài  Gòn và Nam Bộ thích ăn ngọt, rất ngọt. Ngọt từ cái bánh, ly nước đến bữa cơm hàng ngày. Ăn uống ngọt nên con người ở đây, nhất là phái đẹp cũng rất... ngọt. Họ ngọt thanh khiết tự nhiên như nước mía, múi mít hay sầu riêng. Họ ngọt từ... da thịt ngọt ra bằng lời ăn tiếng nói và cách ứng xử thường ngày.

Biết tôi sống ở Sài Gòn, làm rể Nam Bộ, bạn bè hay đùa “Gái Sài Gòn - Nam Bộ có ngọt không?”. Dĩ nhiên là ngọt. Ăn ngọt, uống ngọt thì người cũng... ngọt chứ sao! Nhưng cái ngọt của người gốc Sài Gòn - Nam Bộ, của gái miệt vườn không phải ngọt điệu đàng, ngọt hoa hòe hoa sói, ngọt dẻo miệng dẻo mồm, ngọt xã giao, không phải kiểu “ngọt mật chết ruồi”, mà là cái ngọt dịu dàng chơn chất “ngọt từ da thịt ngọt ra”, cái ngọt thanh khiết tự nhiên như thơm Bến Lức, dừa sáp Cầu Kè, đuông dừa Bến Tre, quít đường Trà Vinh, mía Tây Ninh, sầu riêng Cái Bè, xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, măng cụt Cái Mơn, bưởi Năm Roi Tân Triều... tất nhiên còn ngọt ngào nồng nàn như rượu Gò Đen hay Phú Lễ!

Đã là phụ nữ thì ở đâu, người nào cũng đẹp cũng ngọt. Có điều, dường như tuân theo quy luật tự nhiên, người phụ nữ sinh ra ở Sài Gòn và Nam Bộ mang vẻ đẹp của vùng mênh mông sông nước, với dòng phù sa ngọt ngào và cuồn cuộn, phóng khoáng và nghĩa tình, đằm thắm và mãnh liệt, nhân hậu và bao dung. Họ ngọt chân thành và say đắm. Họ ngọt quyến rũ và thanh tao. Họ ngọt nhiên nhiên như thơ, khó lãng tử nào kiềm lòng được:

"Ngọt từ da thịt ngọt ra
Sông em mở cửa phù sa cuộn trào
Ngọt ánh nhìn ngọt chiêm bao
Anh như ngọn núi ngã nhào... dòng em”

QUỲNH VÂN
Theo Tổ Quốc

TIN VĂN KHÁC:

·         Nhà văn làm nghề gì?
·         Danh và thực



Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ: Bản lề cánh cửa huyền thoại

Những bài thơ, vở kịch của họ đã không còn là những tác phẩm đơn lẻ. Chúng trở thành một bảo tàng, về một giai đoạn sôi động, khi đất nước bước ra từ cuộc chiến tranh và cho thấy diện mạo mới của xã hội hậu chiến.

29-8-2019 – Hơn 30 năm sau ngày mất vì vụ tai nạn gây chấn động, đôi thi ca kịch nghệ Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ vẫn tiếp tục tạo ra một lực hấp dẫn cho người yêu văn chương, nghệ thuật. Những bài thơ, vở kịch của họ đã không còn thuần túy là những tác phẩm đơn lẻ. Chúng đã trở thành một bảo tàng, về một giai đoạn sôi động, khi đất nước bước ra từ cuộc chiến tranh và cho thấy diện mạo mới của xã hội hậu chiến.
Vợ chồng nhà thơ Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ.
 nh tư liệu gia đình

Bản thân Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ cũng trở thành biểu tượng cho đời sống tinh thần thời bao cấp. Sự ra đi của họ đúng thời điểm đất nước bắt đầu bước vào đổi mới, giống như một cặp bản lề cho cánh cửa mở vào hiện tại của chúng ta. Ánh hào quang của họ, qua bốn thập niên, gợi đến một huyền thoại trọn vẹn của thời bao cấp.

Đại cảnh và hậu trường

Vào giai đoạn hoàng kim của sân khấu kịch nói thời bao cấp, Lưu Quang Vũ đã tạo ra hào quang của mình bằng khoảng 50 kịch bản sân khấu thuộc các loại hình kịch nói, chèo, cải lương. Chỉ trong vòng 10 năm, các vở kịch của Lưu Quang Vũ trở thành diễn đàn xã hội, thu hút sự quan tâm của đông đảo các giai tầng. Chúng cung cấp một không gian chắt lọc hiện thực đời sống, như các vở Lời nói dối cuối cùng, Điều không thể mất, Tôi và chúng ta… nhưng cũng không thiếu chất thơ bay bổng, thậm chí chứa đầy sự tưởng tượng như Hoa cúc xanh trên đầm lầy, Chết cho điều chưa có… Sự sáng rực ấy chấm dứt đột ngột bằng sự ra đi, tạo ra một huyền thoại về định mệnh, như để đáp ứng quan niệm “chữ tài liền với chữ tai một vần”.

Ở góc độ người bạn đời, Xuân Quỳnh bổ trợ vào hào quang của Lưu Quang Vũ khía cạnh người đồng hành, tri kỷ. Những câu thơ của Xuân Quỳnh giống như các trang nhật ký mang tính chất “câu chuyện hậu trường” cho những lớp diễn sân khấu đại cảnh của Lưu Quang Vũ, tạo ra cảm giác hoàn chỉnh về đời sống một gia đình nghệ thuật. Dù trước khi đến với Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ đã có những nàng thơ, những tình yêu và “câu chuyện nhỏ” trong những tập thơ đã và chưa được in vào lúc ấy, trong nhiều năm, chân dung Lưu Quang Vũ được mặc nhiên như một mảng dương bên cạnh phần nữ tính của một trái tim “làm sống lại những hồng cầu đã chết” (Tự hát – Xuân Quỳnh). Hai nửa chân dung được xã hội lúc ấy đóng khung thành những huyền thoại công dân và huyền thoại nghệ sĩ.

Những vở kịch và câu thơ nhân hậu thời chiến của họ khắc khoải một ý thức công dân. Chính Lưu Quang Vũ, trong các vở kịch của mình, lại tỏ ra trung thành hơn hết với những định đề về chủ nghĩa dân tộc, về bản sắc Việt Nam được thế hệ cha ông mới tạo ra vào đầu thế kỷ XX. Nhà soạn kịch viết ra các kịch bản đề tài lịch sử theo kiểu sử thi, cài cắm các thông điệp chính trị chính thống trong hoàn cảnh đất nước hậu chiến vẫn ngổn ngang xây dựng và hai cuộc chiến tranh biên giới. Ông hoài vọng quá khứ đầy lãng mạn qua các vở Ngọc Hân công chúa, Sống mãi tuổi 17, Chết cho điều chưa có.

Lưu Quang Vũ không tìm kiếm hiện thực tuyệt đối. Xét cho cùng, ông vẫn nằm trong hệ mỹ cảm của chủ nghĩa lãng mạn mang màu sắc công xã. Điều này cũng dễ dàng nhận thấy trong những bài thơ về thiên chức phụ nữ của Xuân Quỳnh. Dường như các bài thơ đều tràn ngập nỗi băn khoăn, những câu hỏi tác giả tự đặt ra cho bản thân, kiểu “Trái tim buồn sau lần áo mỏng/ Từng đập vì anh qua những trang thơ” (Thời gian trắng), vẫn trau chuốt một thẩm mỹ song trùng.

Sức mạnh của hoài niệm

Bên cạnh các vở kịch chính luận chất chứa những câu thoại mạnh bạo, đậm gắt tính thế sự, kiểu “Chúng ta đã qua thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng và bước vào thời kỳ đồ đểu” (Ông không phải là bố tôi), “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân. Đầy tớ mà không tốt thì nhân dân sẽ thay đầy tớ khác (Lời thề thứ 9) – không khỏi khiến người xem giật mình vì sự thẳng thắn đến quyết liệt – Lưu Quang Vũ tìm lại nguồn cội dân gian cả Việt Nam lẫn phương Đông, như một cách tung hứng các thông điệp trào phúng hoặc có tính ngụ ngôn như Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Nàng Sita; Ông vua hóa hổ…

Có độ lùi thời gian, những chất liệu dân gian lại tỏ ra có sức sống hơn cả. Chúng thể hiện dấu vết của những huyền thoại cộng đồng, bên dưới những phát lộ bề mặt dễ thấy. Người ta chợt nhớ, Lưu Quang Vũ là con của nhà thơ Lưu Quang Thuận – người từng có mặt trong phong trào Thơ Mới, cũng là một phong trào mang dáng vẻ huyền thoại của thời thuộc địa. Tuy nhiên, dấu vết giải thuộc địa lại không diễn ra trực tiếp ở Lưu Quang Vũ, mà đến thơ và kịch của tác giả này, tâm thế hiện đại nổi bật, khiến chúng đĩnh đạc tuyên ngôn một tư cách độc lập. Tứ thơ “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ” (Tiếng Việt) từng gây tranh cãi về dị bản ở chữ “như bùn”, lại chính là một cảm thức về “nhãn tự”, dưới cái vỏ vừa mịn màng vừa thô ráp, được khởi từ thơ kháng chiến chống Pháp, đến Lưu Quang Vũ, đã thành một tư duy mang dáng dấp triết lý thế hệ.

Những bài thơ tình của Lưu Quang Vũ viết về “những người đàn bà không có tên” hay những góc đô thị hoang vu “viển vông cay đắng u buồn”, sóng đôi với những đô thị “Đường cuốn bụi bờ đê tràn ngập gió/ Những phố phường lầm lụi với lo toan” của Xuân Quỳnh, thực tế đang cung cấp một phông cảnh cho sự hoài niệm của độc giả hôm nay về Hà Nội gần nửa thế kỷ trước.

Dường như những câu thơ sẽ đọng lại ở những cuốn sổ thơ nho nhỏ, ở những trí nhớ thầm thì, những vở kịch sẽ khó còn tạo ra độ phủ dụ ma mị thuở nào khi cạnh tranh với các thể loại khác hiện nay. Nhưng các huyền thoại là gì, nếu chẳng phải chúng luôn được bồi đắp bằng một nỗi khao khát nồng nhiệt tự thân, “trên ngày tháng, trên cả niềm cay đắng”?

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

TIN VĂN KHÁC:

·         Nhà văn làm nghề gì?
·         Danh và thực


Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2019

Khoảnh khắc Đào An Duyên

Đào An Duyên đã chớm qua trẻ nhưng chưa tới từng trải như người... già. Tản văn của cô vì thế nó chừng mực. Không quá nhiều tầng nghĩa, không nặng kiến thức, nhưng cũng qua được những xúc cảm "phi trọng lượng" để câu chữ, hình ảnh và những liên tưởng, những hồi quang không chống chếnh...
Nhà văn Đào An Duyên - Ảnh: PH

Thời gian gần đây trên một số báo xuất hiện những tản văn nho nhỏ xinh xinh của Đào An Duyên. Cũng nói luôn, tản văn là thể loại mới được các báo trọng dụng dầy hơn so với trước. Nó làm cho tờ báo mềm đi, làm cho người đọc có thời gian ngưng nghỉ giữa bề bộn tin tức dày đặc trên báo. Nó tăng chất văn cho những tờ báo chính trị xã hội vốn dĩ được mệnh danh là cứng và khô. Đấy là xu hướng đúng trong thời điểm hiện nay, bởi thông tin nhanh nhất, nhạy nhất, sống động nhất, báo mạng đã làm, thậm chí là mạng xã hội đã làm, nó khiến người ta phải chạy. Báo giấy, xen kẽ tản văn, truyện ngắn và thơ vào, nó như đang đi bộ dưới nắng có một chỗ râm mát để nghỉ.

Trong làm thơ, lục bát tưởng dễ mà khó nhất. Tức ai làm cũng được, cứ trên 6 dưới tám và gieo vần cho chuẩn là được. Nhưng té ra, đấy chưa phải thơ. Thơ phải là cái gì vượt lên trên câu chữ, niêm luật, vượt lên rổn rảng để lặn vào im lặng. Phải ám ảnh và dư ba. Để cuối cùng là, có được câu lục bát hay, bài lục bát hay, nó khó như... làm thơ lục bát.

Trong văn xuôi, thì có vẻ như, viết tản văn là nhàn nhất. Quả có thế thật. Nhưng, lại cũng như lục bát, có được một cái tản văn đọc xong mà cứ xốn xang, mà cứ thắc thỏm, mà lâng lâng, mà vương vấn... khó vô cùng.

Bởi tản văn không chỉ là những con chữ đẹp, lấp lánh, không chỉ là những dòng rưng rưng tưởng như cảm xúc, mà nó còn là những trải nghiệm, là tâm hồn tác giả. Nó là những ký ức đan xen hiện tại, những xưa xa trong hiện tại bộn bề. Nó như thơ, kiệm lời kiệm chữ, nhưng phải mênh mang, phải mở rộng biên độ tưởng tượng, phải thấy nhịp tim rung từ dấu chấm, thấy sợi tóc bay từ cái ngắt hàng vô tình. Nó bung phá nhưng không được dài, nó âm vang mà phải kiệm chữ, nó duềnh như sóng nhưng lại chỉ được thể hiện mình trong giọt nước...
Tập "Dòng sông trôi qua tôi" của Đào An Duyên

Đào An Duyên xuất thân giáo viên dạy văn. Có những dồn nén không thể không nói từ một tâm hồn nhạy cảm, từ quá trình sống, từ chính cảm xúc nghề nghiệp, cô bèn làm thơ. Đã có mấy tập thơ cả in chung in riêng rồi. Rồi như chưa đủ, như cái chiếu nghỉ giữa thơ và dạy học, cô viết tản văn. Một cách nuôi thơ, ở cả 2 nghĩa, cảm xúc và kinh tế. In tản văn trên báo nhuận bút cao hơn thơ, dễ được in hơn thơ. Và tản văn chính là cách tích trữ năng lượng chữ, năng lượng cảm xúc, là cách luôn luôn đặt mình trên bệ phóng lao động, vắt kiệt mình cho chữ...

Người từng trải có lợi thế của người từng trải và người trẻ cũng có lợi thế của họ khi viết tản văn. Đào An Duyên đã chớm qua trẻ nhưng chưa tới từng trải như người... già. Tản văn của cô vì thế nó chừng mực. Không quá nhiều tầng nghĩa, không nặng kiến thức, nhưng cũng qua được những xúc cảm "phi trọng lượng" để câu chữ, hình ảnh và những liên tưởng, những hồi quang không chống chếnh. Nó có lý bởi những gì tác giả viết ra đều được soi từ chính cuộc đời đang hiển hiện trước mắt. Trong đó là những câu chuyện tươi rói, những suy ngẫm nặng nhẽ đời và những dòng ký ức cứ vừa trong veo vừa đằm sâu như dòng sông trôi trong một chiều nào đó, ở một vùng nào đó, trong một tâm trạng nào đó, tôi gọi là khoảnh khắc Đào An Duyên.

Là tôi muốn nói tới cảm xúc của mình, một cách gần giống với tản văn nhất, về tập sách của Đào An Duyên mới xuất xưởng, "Dòng sông trôi qua tôi", 236 trang, NXB Quân đội nhân dân xuất bản tháng 7 năm 2019.

VĂN CÔNG HÙNG
Theo Văn Nghệ
TIN VĂN KHÁC:

·         Nhà văn làm nghề gì?
·         Danh và thực


Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

Bức chân dung tự họa trong thơ Ngân Giang

Đọc bài phú Trưng Nữ Vương của Ngân Giang người đọc không chỉ cảm thấy những phẩm chất dũng liệt của người nữ anh hùng trong buổi đầu dựng nước mà còn cảm nhận sâu sắc hơn nỗi lòng của một người đàn bà góa bụa:

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi

Dù là vị vua đứng đầu triều chính thì lúc này nỗi cô đơn vẫn vò xé trái tim bà. Quan niệm nghệ thuật mới về con người đã thể hiện hình ảnh bà Trưng thật sống động và gần gũi. Người đọc thấm thía với nỗi đau riêng của bà qua 20 thế kỷ.

Có thể khẳng định rằng, chỉ có tình cảm và nỗi lòng trắc ẩn của  một nữ sĩ như Ngân Giang mới khắc họa được chân dung bà Trưng độc đáo và tài hoa đến thế. Bài thơ này đã góp phần quan trọng đưa Ngân Giang đến với sự tôn vinh “Nữ hoàng Đường thi” của thế kỷ XX.
Nhà thơ Ngân Giang.

Chung quanh cuộc đời hơn 80 năm cầm bút của nhà thơ Ngân Giang có khá nhiều câu chuyện đã trở thành giai thoại.

Người ta kể lại rằng, vào ngày 25- 3-1969, thi sĩ Đông Hồ trong khi đang bình bài thơ này cho các sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn cùng thưởng thức, đọc đến câu: “Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa/ Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi” và ông mới thốt lên: “Chàng ơi....” thì ngất xỉu ngay trên bục giảng, để rồi sau đó ít giờ, ông vĩnh viễn từ biệt thế gian.

Cái chết của thi sĩ - nhà giáo Đông Hồ trong lúc trình diễn bài thơ của nữ sỹ Ngân Giang được xác định là do chấn động tâm lý, dẫn tới cơn tai biến mạch máu não. Đây được xem là một trong những giai thoại văn chương ấn tượng nhất từ trước tới nay.

Trước đó, năm 1952, thi sĩ Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết ra Bắc thăm Ngân Giang. Trong buổi gặp gỡ, họ yêu cầu bà đọc bài thơ Trưng Nữ Vương.

Khi Ngân Giang ngâm xong, hai người bạn thơ rất thích thú và kể cho bà nghe chuyện: Có một số thi sĩ miền Nam nghi bài này của nam giới làm, mới có lời thơ phí khách như vậy. Đông Hồ phải đưa ảnh Ngân Giang ra giới thiệu, họ mới chịu tin.

Trong buổi nói chuyện, Đông Hồ kể về cảnh đẹp sông Hương, núi Ngự và tặng Ngân Giang bài thơ:

Kẻ sĩ vẫn còn hương vãn tuyết,
Danh hoa đành mãi nở trong mưa
Mày ngài mắt phượng khôn qua số
Bút thỏ nghiên son mấy đợi chờ
Hoa cúc để gày thu đất Bắc
Đường về mang nặng mối tương tư…

Nghe lời kể của các bạn thơ, Ngân Giang cảm xúc làm bài thơ Huế để tặng lại:

               Huế
(Kỉ niệm buổi hội ngộ nhà thơ Đông Hồ)

Đông Hồ tưởng niệm bao nhiêu
Đêm đêm lệ nến rơi theo lá vàng
Huế, qua lời bạn Đông Hồ
Hương Giang đẹp lắm! Không vô cũng hoài
Mây mờ núi Ngự chơi vơi
Hò ơ! Mái đẩy chở người trong trăng
Chén mời, thuyền ghép bâng khuâng
Thơ trao mặt nước, nước lồng bóng mây
Nghiêng hồ nghe khách so dây
Mà nao nao nhớ, mà ngây ngây buồn
Cho tôi bỗng mến, bỗng thương
Nẻo vào chốn đó, con đường có xa?
Ân cần chuốc rượu vì hoa
Xứ thần tiên ấy hẳn là rất thơ
Buông chèo theo lối trăng khuya
Khách tài tình vốn đi, về tìm nhau!...

Nhà thơ Ngân Giang như nhiều người biết là một trang nữ lưu tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời bà gặp nhiều trắc trở, đúng với câu “hồng nhan đa truân, tài mệnh tương đố”. 

Thân phận truân chuyên của nữ sĩ đã được chính bà khắc họa thật rõ nét trong thơ mình. Bài thơ Tâm trạng với những câu thơ Đường luật chặt chẽ về niêm luật và đối xứng thoáng đạt đã khắc họa rất chân thực những cảm xúc nỗi niềm của một người đàn bà đa đoan, đa cảm:

Ngày chửa sang thu đã thấy buồn
Tình chưa ngời sáng đã hoàng hôn
Thân không trời đất, mà mưa gió
Lòng chẳng binh đao, cũng chiến trường

Hiếm có một tiếng thơ nữ nào thể hiện một giọng thơ thảng thốt và đầy khí phách đến như vậy. Những dòng thơ đầy tâm trạng ấy đã vận vào đời Ngân Giang như một nỗi ám ảnh định mệnh. 

Trong cuộc đời đắng cay, nước mắt nhiều hơn nụ cười, có những lúc cùng đường tuyệt vọng. Ngân Giang đã toan tìm đến cái chết. Nỗi niềm cay đắng ấy đã được bà bộc lộ rất thành thật:

Đời bạc đã toan liều mệnh bạc
Nghĩa thâm khôn dứt với tình thâm

Cả những nỗi trớ trêu, nghịch cảnh trong thân phận mình cũng hiện rõ trong những lời thơ xót xa, cay đắng:

Mẹ theo chồng mới, cười như mếu
Con nhớ cha xưa, khóc ngỡ đùa

Đến những năm 70 của thế kỉ trước, Ngân Giang lui về sống ở bãi Nghĩa Dũng ven sông Hồng. Lúc này tuổi cao, sức yếu, Ngân Giang mở một quán bán nước chè để kiếm sống qua ngày. Cảnh nghèo túng, nỗi cô đơn hiu hắt cũng đã được bà diễn tả qua những câu thơ thật đến nhói lòng:

Một quán bên sông cuối phố nghèo
Miếng trầu, bát nước có bao nhiêu
Sự đời hay dở khoan bàn đến
Lá rụng quanh thềm gió hắt hiu

Gánh nặng cơm áo trĩu đôi vai gầy của người đàn bà tài sắc mà đa đoan lận đận, nó in dấu khổ đau trong tâm hồn và trên thể xác:

Mười năm quét lá bên sông
Hình hài để lại cái còng trên lưng
Điều đáng nói là trong hàng trăm bài thơ khắc họa về nỗi cô đơn và sự nghèo túng nhưng mỗi bài một vẻ, một cách diễn đạt khác nhau. Xâu chuỗi lại, người ta vừa xót thương, vừa cảm phục, không hiểu bà lấy đâu ra sức lực và lòng kiên nhẫn để hứng chịu và vượt lên tình cảnh đó.

Suốt cuộc đời mình, nữ sĩ Ngân Giang đã “vịn câu thơ mà đứng dậy”. Bà say mê tâm huyết với thể thơ Đường luật. Thể thơ vốn trang trọng, đài các này đã song hành với cuộc đời nhiều cay đắng, lắm gian nan, nhưng cũng không ít tài hoa, chói sáng. Có lẽ nữ sĩ Ngân Giang cũng đã cảm nhận được điều đó khi tổng kết về đời thơ mình:

Ôi một đời thơ, xót luật Đường
Lênh đênh hoa dạt sóng muôn phương
Điệu tỳ lỡ dịp, tơ dang dở
Là một tài hoa mấy đoạn trường

Từ tập thơ Giọt lệ xuân ra đời năm Ngân Giang 16 tuổi cho đến những bài thơ viết lúc cuối đời, thơ của nữ sĩ là những Tiếng vọng sông Ngân còn vang mãi trên thi đàn nước Việt.

Đã muốn gác bút, nhưng rồi...

So với các nữ sĩ cùng thời như Anh Thơ, Hằng Phương…, cuộc sống riêng tư của Ngân Giang trắc trở hơn nhiều.

Trắc trở, ngơ ngác ngay từ khi đầu xanh tuổi trẻ: "Con lên hai, mẹ hai mươi/ Ngơ ngác buồn tênh giữa cuộc đời/ Gió táp, mưa lầm… ôi giá lạnh/ Đường về, biết sẽ hỏi thăm ai" (Đường về).

Cho đến khi bạc đầu: "Còm cõi bên sông tóc úa dần/ Tay nâng chén nước, lệ đầy khăn" (Quán mưa bãi vắng).

Đã có lúc trong quẫn bách, tuyệt vọng, Ngân Giang định gác bút. Nhưng tình yêu thơ ca không cho phép bà dừng lại. Đây chính là khả năng vượt lên số phận, là bản lĩnh xuyên qua nghịch lý để có một Ngân Giang nữ hoàng Đường luật sánh với ông hoàng Đường luật Quách Tấn của Mùa cổ điển.

Thật khó hình dung trong cảnh sống khốn khó, ngặt nghèo của gánh nặng cơm áo gạo tiền mà gia tài thi ca của Ngân Giang lên tới 4 nghìn bài, mà đặc sắc nhất là những bài thơ Đường luật.

Với nhiều người, thơ Đường luật đã qua thời hoàng kim và trở nên nhạt màu từ sau thời Thơ mới, nhưng với Ngân Giang, đây là thể thơ giúp bà diễn tả mọi cung bậc cảm xúc, mọi chìm nổi, sóng gió đời mình một cách thuận tay nhất. Dường như những phép tắc từ chương, niêm luật gò bó, rắc rối không hề cản trở hoa tay người viết. Đường luật đã thực sự trở thành máu thịt của bà.

Điều đó làm cho người đọc mỗi khi nghĩ đến Ngân Giang lại mường tượng thấy dường như một tài nữ đâu đó trong trong cõi vời vợi của không gian vang bóng một thời nay trở về trú ngụ trong cuộc đời lắm nỗi truân chuyên này.

Thực ra việc xuất hiện quá nhiều trong thơ Ngân Giang những sầu hận, buồn tủi, cô đơn, uất hận đã phần nào làm hạn chế sức tung phá của ngòi bút. Thậm chí, sáo mòn! Nhưng chính sự lặp đi lặp lại của các mô típ đó đã khiến cho người đọc hiểu sâu kỹ hơn bản sắc tâm hồn Ngân Giang, thấy rõ hơn những nỗi niềm thân phận đời bà. Nỗi buồn bủa vây suốt đời bà  như định mệnh khó gỡ.

Vào năm 1987, khi đã 71 tuổi, Ngân Giang vẫn còn đau đáu vì một điều bất thành nào đó: "Nắng mưa mấy độ bao chờ đợi/ Một kiếp là thôi một kiếp sầu" (Cảm thán).

Bốn nghìn bài thơ là hàng nghìn mảnh vỡ của một tâm trạng buồn sầu. Tuy nhiên con số mấy nghìn bài thơ Đường luật kia chỉ có ý nghĩa như những con số nói lên tâm huyết và sự bền chí trong sáng tạo nghệ thuật của bà. Cái quan trọng nhất để Ngân Giang mãi còn trong lịch sử văn học chính là Trưng Nữ Vương (1939) ra đời trong những phút xuất thần không lặp lại.

Sở dĩ Trưng Nữ Vương thuyết phục được cả những người đọc khó tính nhất bởi ở đó có sự hòa quyện, ngân vang của hai nguồn cảm xúc song hành: chất giọng sử thi và cái chơi vơi, cô đơn của tâm trạng. Bài thơ đã thể hiện được một cách tài hoa tầm vóc, khí phách của một vị anh hùng giàu nữ tính: "Ngang dọc non sông đường kiếm mã/ Huy hoàng cung đện nếp cân đai".

LƯU KHÁNH THƠ
Theo ANTG
TIN VĂN KHÁC:

·         Nhà văn làm nghề gì?


Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

Nhà văn làm nghề gì?

Nhà văn làm nghề gì? Câu hỏi đặt ra có vẻ hơi lạ tai, nhưng lại không mâu thuẫn chút nào hết. Đa số các nhà văn, nghề chính của họ không phải là viết văn, mà là một nghề hoàn toàn khác, hoặc trước khi đến với văn chương, họ đã làm vô số những nghề rất xa với việc viết.

Raymond Carver là một tác giả truyện ngắn lừng danh của nước Mỹ. Trước khi đến với văn chương và trong giai đoạn đầu, Raymond Carver làm bảo vệ cho một bệnh viện. Nhà văn quá nghèo, lúc nào cũng trong tình trạng thất nghiệp, kiếm được một chân bảo vệ bệnh viện là đã sung sướng nhất đời. Vì làm bảo vệ theo ca, những lúc rảnh rỗi, ông liền tranh thủ viết.

Vừa  gác đêm, vừa nuôi mộng văn chương nhưng Raymond Carver đã nhanh chóng thành công. Khi có người hỏi sao ông không viết tiểu thuyết mà chỉ viết truyện ngắn, Raymond Carver đã trả lời rằng, ông quá nghèo và đâu có nhiều thời gian.

Với truyện ngắn, ông có thể quay vòng nhanh, viết xong đăng báo có tiền nuôi gia đình ngay, chứ đợi hoàn thành một cuốn tiểu thuyết thì sẽ... chết đói! Và cứ nghĩ mà xem, với một anh bảo vệ bệnh viện thì lấy đâu ra thời gian để viết một cuốn sách thật dài, truyện ngắn là thể loại nhà văn canh tác phù hợp trong bối cảnh ấy.
Từ trái qua: Các nhà văn Gacía Márquez, Haruki Murakami và Coetzee.

Nhà văn Haruki Murakami, người Nhật Bản, trước khi viết văn đã từng làm chủ một quán bar chuyên chơi nhạc jazz, điều này giải thích cho việc trong các tác phẩm của Murakami có rất nhiều âm nhạc và tác giả thường cho nhân vật nghe một bản nhạc gì đó, ưa thích là nhạc jazz. Có lẽ dấu ấn của một thời làm một công việc khá xa lạ với văn chương đã giúp ích cho Murakami. Những đoạn ông miêu tả quán bar trong các tiểu thuyết mang nhiều dấu ấn kinh nghiệm và cảm xúc của một thời kinh doanh của ông.

Có lẽ làm báo là công việc gần gũi với văn chương nhất của các nhà văn. Gacía Márquez làm báo trong nhiều năm và là một tay cự phách. Ông là cây bút viết phóng sự nổi tiếng và từng làm phóng viên thường trú ở nước ngoài cho nhiều tờ báo, trong đó có hãng thông tấn Prensa Latina của Cu Ba và trở thành bạn thân của Fidel Castro.

Hemingway làm phóng viên cho một báo địa phương, tờ The Kansas City Star. Dù thời gian làm cho tờ báo này rất ngắn nhưng đã ảnh hưởng rất lớn đến văn phong của Hemingway trong suốt sự nghiệp của ông. Nếu ai đã từng đọc các tác phẩm nổi tiếng của Hemingway như “Giã từ vũ khí”, “Chuông nguyện hồn ai”, “Ông già và biển cả”... sẽ nhận thấy văn Hemingway thường là các câu ngắn, mở đầu cũng ngắn, ưa dùng thứ tiếng Anh ấn tượng, là một phong cách rất gần gũi với báo chí. Lừng lẫy ở sự nghiệp văn chương với giải Nobel năm 1954, Hemingway còn được vinh danh là nhà báo giỏi nhất trong 100 năm của tờ The Kansas City Star.

Ở Việt Nam, rất nhiều nhà văn đồng thời là các nhà báo. Thời tiền chiến, các nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Ngô Tất Tố... đồng thời cũng là các nhà báo lừng danh. Vũ Trọng Phụng được phong danh hiệu “ông vua phóng sự đất Bắc” với những bài viết đi sâu vào tìm hiểu đời sống nghèo khó của người dân đô thị.

Ngoài một sự nghiệp văn chương với những tác phẩm lừng danh như các tiểu thuyết “Số đỏ”, “Giông tố”... gia sản báo chí của Vũ Trọng Phụng cũng rất đáng kể với các tập phóng sự “Cạm bẫy người”, “Kĩ nghệ lấy Tây”, “Cơm thầy cơm cô”...

Còn Vũ Bằng vừa viết văn, vừa là phóng viên kiêm ông chủ của nhiều tờ báo có tiếng. Ông yêu những tờ báo của mình đến mức, khi không có giấy in báo, Vũ Bằng đã về nhà mẹ, nài nỉ bà cho vay tiền mua giấy để in báo. Với sự đam mê và năng nổ, cùng với tài năng, Vũ Bằng đã trở thành một trong những nhà báo xuất sắc và năng động nhất của báo chí Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX. Về nghề báo, ông có một tập hồi kí rất có giá trị: “Bốn mươi năm nói láo”.

Ngô Tất Tố xuất thân là một nhà Nho nhưng ông viết báo cho rất nhiều tờ báo khác nhau và đã viết hàng nghìn bài báo, nổi trội nhất là mảng tiểu phẩm và phóng sự với gần 30 bút danh, có người nói là hàng trăm bút danh, điều đó đã cho thấy sức làm việc, sức viết đáng nể của tác giả “Tắt đèn”, “Lều chõng...”.

Đến sau này, thời chiến tranh, các nhà văn đồng thời là nhà báo, chiến sĩ cũng không hiếm. Nhà văn Nguyễn Thi khi công tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã xung phong vào Nam chiến đấu và trở thành phóng viên chiến trường. Ông đã hi sinh khi cùng với một cánh quân tiến về Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Nằm trong vùng chiến tranh, những tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Thi mang âm hưởng bi tráng và hào hùng của trận mạc và hậu phương đánh giặc như “Người mẹ cầm súng”.

Nhà văn Dương Thị Xuân Quý cũng từng là phóng viên chiến trường. Từ báo Phụ nữ Việt Nam, bà vào chiến trường và trở thành phóng viên của Tạp chí Văn nghệ Giải phóng Trung Trung bộ. Dương Thị Xuân Quý hi sinh năm 1969 trong một trận càn của địch ở Quảng Nam. Danh sách các nhà văn đồng thời là các nhà báo rất dài, có thể kể thêm các gương mặt đương đại như Nguyễn Quang Thiều, Sương Nguyệt Minh...

Số nhà văn xuất thân từ nghề dạy học hoặc vẫn đang là giáo viên dạy học cũng không ít. Coetzee, nhà văn người Nam Phi đoạt giải Nobel năm 2003, nổi tiếng với những tiểu thuyết “Ruồng bỏ”, “Thời đại và cuộc đời của Micheal K”, “Đợi bọn mọi”... vốn là một giảng viên đại học nhiều trường danh tiếng. Philip Roth, một nhà văn lớn của nước Mỹ, tác giả của các tiểu thuyết “Người phàm”, “Vết nhơ của người”, “Báo ứng”... cũng là một giáo sư đại học.

Ở Việt Nam, những nhà văn xuất thân từ nghề giáo còn nhiều gấp bội. Nam Cao nguyên là một “giáo khổ trường tư” và những trang viết về những anh giáo nghèo xuất hiện trong nhiều tác phẩm của nhà văn, vừa khái quát chung về giới trí thức, văn nghệ sĩ nghèo khi đó, vừa mang những nét riêng của chính cuộc đời dạy học, viết văn của tác giả, trong đó có những tác phẩm nổi tiếng như “Sống mòn”, “Đời thừa”...

Ma Văn Kháng nguyên là giáo viên dạy học ở Lào Cai và nhờ “văn hay chữ tốt”, đã có thời gian ông làm thư kí cho Bí thư Tỉnh ủy. Và cũng giống như Nam Cao, quãng đời dạy học này đã ghi dấu trong nhiều tác phẩm của ông. Nguyễn Huy Thiệp cũng từng là giáo viên dạy lịch sử ở Sơn La. Y Ban làm giáo viên trường Y và còn rất nhiều những nhà giáo kiêm nhà văn khác.

Nghề báo, nghề văn có thể khá gần gũi với văn chương với những khuôn mặt kể trên, nhưng cũng có những người xuất thân từ những công việc rất khác xa. Tạ Duy Anh từng là công nhân Nhà máy Thủy điện Sông Đà; Dương Hướng là cán bộ Hải quan; Hồ Anh Thái là nhà ngoại giao; Nguyễn Trí là dân giang hồ...

Quay trở lại việc đặt vấn đề ở đầu bài, tại sao các nhà văn thường làm một công việc chính và viết văn thường là nghề tay trái của họ, hoặc trải qua rất nhiều công việc họ mới trở thành nhà văn. Viết văn là nghề rất riêng biệt, hầu như không thể đào tạo được, mặc dù có những khóa học cho sự viết, nhưng đó chỉ là những hỗ trợ cần thiết chứ không có gì đảm bảo và thực tế đã chứng minh: không phải đi học viết văn là có thể trở thành nhà văn.

Có rất nhiều nhà văn chưa từng qua một trường lớp hay khóa đào tạo nào, họ viết như một năng khiếu bẩm sinh cùng với sự rèn luyện và tự học của bản thân. Đặc trưng của sự viết là không phải chỉ có cảm xúc, năng khiếu là viết được, nó còn đòi hỏi rất nhiều vốn sống, sự trải nghiệm, quan sát, đọc và suy ngẫm... Cho nên một người nào đó vốn sống càng nhiều, sự trải nghiệm càng lớn và khả năng suy nghĩ phát hiện tốt thì càng có nhiều khả năng trở thành một nhà văn.

Các nhà văn Việt Nam, do điều kiện đặc thù, có một thời gian rất dài đất nước trải qua chiến tranh nên có nhiều người xuất thân từ quân ngũ và tác phẩm của họ thấm đẫm một không khí của thời chiến và những dư âm của nó. Những nhà văn từng là người lính có thể liệt kê một danh sách rất dài, một số nhân vật tiêu biểu có thể kể tên như Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Hữu Thỉnh, Bảo Ninh, Chu Lai, Khuất Quang Thụy...

Nghề giáo, nghề báo, biên tập viên trong xã hội đương đại là một nghề gần gũi với việc viết văn. Ở nghề giáo, người viết có một môi trường tiếp xúc nhiều với chữ nghĩa và thường được khơi gợi những lí tưởng, ý tưởng về tuổi trẻ, cuộc sống và những trăn trở con người. Theo quan sát của tôi, số những người viết văn ở Việt Nam xuất thân từ nghề giáo hoặc đương kim giáo viên có một con số vượt trội.

Nghề báo thì có những đặc thù riêng, ngoài điểm tương đồng rất lớn là viết, nghề báo có một lợi thế là có rất nhiều cơ hội tiếp xúc với sự kiện, nhân vật ngoài xã hội, một nguồn tài nguyên dồi dào cho sự viết và sáng tạo. Nhà báo có thể khai thác những nhân vật, sự kiện ngay cho một bài báo, phóng sự nóng hổi và ở những quãng trầm lắng hơn, sử dụng nó cho những trang văn của mình.

Còn biên tập viên văn học, những người vừa hội đủ yếu tố của chữ nghĩa, vừa được làm trực tiếp với đối tượng văn chương, sự tích lũy kinh nghiệm, niềm cảm hứng từ các tác phẩm sẽ rất dễ thôi thúc họ viết.

Viết văn là một quá trình nhọc nhằn và đòi hỏi nhiều điều kiện tự thân nếu người viết muốn tạo ra những tác phẩm giá trị. Dù làm nghề gì, xa lạ hoặc gần gũi với văn chương đều đòi hỏi một niềm đam mê, sáng tạo và nỗ lực thực sự. Con đường và cách thức đến với văn chương có thể khác nhau, nhưng điểm chung là người viết đều muốn sáng tạo ra những sản phẩm tinh thần có giá trị từ sự lao động, quan sát, suy ngẫm và trăn trở về cuộc sống của mình.

UÔNG TRIỀU
Theo VNCA

Nỗi oan của môn Văn

Tôi hay đọc sách từ nhỏ, nhưng những năm ở cấp I, vẫn sợ nhất là văn miêu tả.

Tôi chỉ bắt đầu yêu những tiết Văn từ lúc vào cấp II. Trường Trung Tự, Hà Nội, hồi ấy còn dáng dấp trường làng, không có thư viện để đọc sách văn học. Cô Hương, giáo viên chủ nhiệm kiêm cô dạy Văn đã cho chúng tôi những giờ học rất khác.

Tiết học Giáo dục công dân được thế bằng những buổi đọc truyện "Những tấm lòng cao cả" của Edmondo De Amicis. Còn trong giờ Văn, cô luôn dành 15 phút cuối đọc từng chương của truyện "Totto-chan, cô bé bên cửa sổ" và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác cho cả lớp nghe. Tới bây giờ, dù đã qua một phần tư thế kỷ, tôi vẫn nhớ về các nhân vật của "Những tấm lòng cao cả", từ cậu bé Garone hào hiệp, luôn giúp đỡ mọi người tới Giulio lén thức đêm giúp bố làm việc.

Tôi đã luôn mơ mộng về ngôi trường đặc biệt Tomoe và phong cách giáo dục của thầy hiệu trưởng Kobayashi Sosaku, nơi học sinh luôn được tôn trọng và được tự do phát huy cá tính, khả năng bẩm sinh của mình. Tôi đã ấn tượng với những câu chuyện nhỏ này còn hơn cả các tác phẩm đã học trong 12 năm đèn sách.

Tôi đã sợ văn miêu tả hồi cấp I vì tôi không thích mèo, không thích lợn và cũng không giỏi quan sát cây cối. Trong khi bài tập thường xuyên yêu cầu tả loài vật và các loại cây. May thay lên cấp II, tôi được gặp cô Hương. Nhưng khi hết cấp III, nỗi sợ môn Văn trở lại khi tôi luyện thi khối D vào đại học. "Lò" luyện thi ở khu vực Đại học Bách Khoa nêm cứng học sinh cả ngày đông giá rét hay mùa hè bức bối. Giờ học bắt đầu từ 7h30 sáng. Chủ lò luyện thi đuổi muỗi bằng cách hun những lò than. Chúng tôi ngồi chen chúc trong những phòng học thiếu sáng, ngáp ngắn ngáp dài.

Thầy đi đi lại lại, đọc, phân tích hết tác phẩm này tới tác phẩm khác, mọi người thi nhau chép. Tôi thường xuyên ngủ gật, giật mình tỉnh dậy lại cắm cúi chép một cách vô thức. In vào đầu tôi là công thức "yêu căm chiến lạc" - tức các nhân vật và tác phẩm cần hội tụ đủ bốn phẩm chất: yêu nước, căm thù giặc, tinh thần chiến đấu và lạc quan. Thầy bảo, mỗi tác phẩm sẽ lên án một giai cấp nào đó, ca ngợi một thành tích nào đó. Và cái giỏi của nhà văn là nêu bật được một điển hình, hoặc đề cao chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng.

Cách "luyện thi" Văn ấy rất xa lạ với lối cảm thụ văn chương mà tôi được dạy từ ông nội - nhà văn Bùi Hiển. Qua những cuộc chuyện trò thường ngày với ông, tôi hiểu rằng các nhân vật trước khi là anh hùng, là điển hình, họ phải được, phải là những con người bình thường trước đã. Như cu Tý trong "Ngày công đầu tiên của cu Tý", là em bé vật nhau với cu Tèo, "đú đởn như con hai chó con", "đặt mình là ngủ tít thò lò, chốc chốc lại chép miệng nhai tộp tộp như người lớn" trước khi ngượng nghịu dắt trâu ra đồng.

Có lần tôi nghêu ngao đọc bài thơ nổi tiếng ca ngợi sự hy sinh của một em bé giao liên trong chiến tranh, ông kể cho tôi nghe hồi ở chiến trường Thừa Thiên chống Pháp, bộ đội đã hội ý với nhau cần chấm dứt việc đưa các cháu nhỏ 14, 15 tuổi làm liên lạc trong các trận đánh. Ông cũng chính là người đã nhiều lần góp ý với các đồng nghiệp ở Hội Nhà văn, rằng ông không thích hình tượng chị Út Tịch mang bụng "chang bang" đi đánh giặc. Theo ông, tinh thần của chị rất đáng quý, nhưng đáng lẽ chồng chị hoặc anh em đồng đội phải can ngăn.

Ông tôi chăm viết nhật ký. Ông ghi chép liên tục hơn 60 năm, từ những năm 1940 khi còn thanh xuân cho tới lúc sức khỏe yếu không thể viết được nữa. Ông rất thích quan sát những con người bình thường nhưng luôn cố gắng vươn lên trong cuộc sống. "Gắng hiểu thêm con người, vấn đề cuối cùng vẫn là ở đó", ông dặn dò các thành viên trong nhà có ý nối nghiệp mình.

Một cách tự nhiên, học Văn, đọc sách đối với tôi là để hiểu thêm về con người, để học cách làm bạn với mọi người, với những niềm vui và cả những uẩn khúc của họ. Thời bao cấp khốn khó, có lần khu nhà tôi bắt được một tên trộm. Các thanh niên nhanh tay trói ngay anh ta và hăm he định đánh. Ông tôi thấy ồn ào liền chạy từ gác tư xuống. "Dừng tay lại. Các cháu không được đánh người ta. Nếu anh này đói quá, mình cho anh ta chút cơm rồi thả người ta đi", ông nói với mọi người. Từ cuộc sống cho tới sáng tác, ông truyền cho tôi và những thành viên trong gia đình tinh thần hướng thiện, hướng bản thân và những người xung quanh về tin yêu và hy vọng.

Bảo, con trai út của tôi tuần trước nhập học lớp năm. Cháu vẫn tự chuẩn bị sách vở cho khai giảng mới, riêng năm nay có ngoại lệ, tôi dành mươi phút ngồi với cháu. Trang 174 trong sách Tiếng Việt lớp năm có bài chính tả "Chợ Ta-sken" của nhà văn Bùi Hiển, ông nội tôi. Tôi chỉ cho cháu và nhắc lại kỷ niệm: "Anh Hai từng viết chính tả bài này của cụ được 9 điểm. Con thi đua với anh nhé". Bảo vui vẻ nhận lời "thách đấu". Thời tôi đi học, sách giáo khoa lớp sáu còn có bài "Ngày công đầu tiên của cu Tý", cũng do ông nội sáng tác. Tôi còn nhớ cảm giác hồi hộp, mong chờ từng ngày cô giáo dạy tới truyện đó.

Đề thi Ngữ Văn của kỳ thi THPT quốc gia vẫn yêu cầu phân tích về thể thơ, cách sử dụng phép điệp, bút pháp, hình tượng văn xuôi, những kỹ năng của các nhà phê bình, lý luận văn học chuyên nghiệp. Không ngạc nhiên khi số thí sinh đạt điểm 1 trở xuống môn Ngữ Văn năm nay cao gấp 2,5 lần năm 2017 và gấp 1,6 lần năm 2018.

Môn Văn sẽ tiếp tục là nỗi khiếp sợ với nhiều thế hệ học sinh khi nó xa rời chức năng chân chính của văn học: giúp ta hướng thiện, giúp khám phá những vấn đề phức tạp của xã hội và những bí ẩn trong tâm hồn con người. Dường như đang có sự lẫn lộn giữa việc học Văn để có kỹ năng viết tốt và học Văn để tưới tắm cho nhận thức, thẩm mỹ và nhân cách của học trò.

Môn Văn không có lỗi. Nó cần được giải oan. Một nền giáo dục còn mơ hồ về mục đích sẽ biến không chỉ môn Văn mà còn nhiều môn học khác thành gánh nặng cho học sinh chứ không phải là hành trang vào đời. Chúng ta có quyền đòi hỏi và chờ đợi những người đang chủ trì việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ nhìn vào những điểm 1 của môn Văn để kịp thời điều chỉnh nội dung và cách học, để mỗi mùa khai giảng lại là một mùa vui.

CẨM HÀ
Theo VNEX



Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2019

Nhà văn Nga Gogol - Người độc thân vĩ đại

Một cuộc đời ngắn ngủi, chỉ 43 năm sống trên cõi thế, liên tục đi du lịch, lúc "định cư" thì chủ yếu ở tại Italia. Không một lần kết hôn. Thực chất chẳng làm việc ở bất cứ đâu, toàn ngồi viết văn theo ý thích, tiền sinh kế chỉ là thu nhập từ một trang trại nhỏ ở Nga với 400 nhân khẩu…Thế nhưng, sau hai thế kỷ trôi qua, Nikolai Gogol vẫn là một tên tuổi sáng chói trong làng văn học Nga, Ucraina và thế giới.
Nhà văn Gogol

Ông để lại sau mình hàng chục tác phẩm kiệt xuất và rất nhiều bí ẩn riêng tư nhưng mang tính thời đại. Năm 2009 đã được UNESCO tôn vinh là Năm kỷ niệm Gogol.

Thực ra, ngay cả ngày sinh của Gogol cũng là điều bí ẩn đối với những người đồng thời với ông trong suốt một thời gian dài. Thoạt tiên mọi người cứ tưởng Gogol sinh ngày 19/3/1809, rồi lại tưởng sinh nhật của ông là ngày 20/3/1810. Và chỉ sau khi ông qua đời, từ giấy khai sinh của ông, người ta mới biết nhà văn sinh ngày 20/3/1809, tức là ngày 1/4 theo lịch mới.

Cuộc hôn nhân của cha mẹ nhà văn được bắt đầu rất lạ lẫm. Ngay khi còn bé, Vasili Afanasevich, cha của Gogol đã thường tới nhà thờ ở tỉnh Kharkov, nơi có tượng Đức Mẹ rất đẹp.

Một lần, ông mơ thấy cảnh Đức Mẹ ngồi ở trên trời cao và chỉ vào đứa nhỏ ngồi dưới chân bà và nói: Đây sẽ là vợ con! Một thời gian sau, cậu bé mà sau này sẽ trở thành cha Gogol đã nhìn thấy trong cô bé con nhà hàng xóm mới bảy tháng tuổi đường nét của vị hôn thê tương lai mà cậu đã gặp trong mơ.

Từ đó trở đi, trong suốt 13 năm liền, Vasili Afanasevich không lúc nào rời mắt khỏi cô con gái con hàng xóm và sau một lần giấc mơ cũ lại hiện về, đã xin được kết hôn với nàng. Một năm sau đó, đám cưới tưng bừng đã được tổ chức. Và đứa con trai đầu lòng của họ là nhà văn vĩ đại tương lai.

Tiếp theo sau là hai cô con gái. Là con trai duy nhất trong nhà, lại mồ côi cha từ năm 15 tuổi, Nikosha (tên gọi thân mật của Gogol) thuở nhỏ được cả gia đình cưng chiều, đặc biệt là mẹ. Bà mẹ sùng bái cậu con trai quý hiếm đến mức đã mất rất nhiều lời để cố gắng thuyết phục mọi người rằng chính Nikosha đã phát minh ra đường ray xe hỏa! Gogol được thừa hưởng từ mẹ một tâm hồn tinh tế, một tinh thần mộ đạo và mối quan tâm sâu sắc tới linh cảm.

Cha ông truyền cho ông tính hay lo lắng quá. Không có gì lạ nếu nhà văn tương lai ngay từ nhỏ đã rất quan tâm tới những điều bí mật, huyền bí, những giấc mơ kỳ thú và đầy điềm báo, những dấu hiệu định mệnh, mà về sau sẽ xuất hiện dày đặc trong các tác phẩm của ông…

Gogol lớn lên đủ đầy trong khung cảnh thiên nhiên hào phóng sắc màu ở Ucraina và dường như không có gì hứa hẹn việc sau này sẽ trở thành nhà văn viết nên những tác phẩm đầy hiện thực cay đắng và u ám như "Chiếc áo choàng" hay "Những linh hồn chết"…

Thực ra ước mơ tuổi thơ của Gogol không phải là viết văn mà trở thành nghệ sĩ: nhà văn tương lai đã thích diễn kịch từ hồi còn học trung học… Năm 20 tuổi, Gogol tới kinh đô Peterburg với ý định xin vào Nhà hát Hoàng đế. Chàng trai đã phải diễn thử một số đoạn kịch trước vị chủ khảo khả kính Khrapovitsky. Phong cách phổ biến hồi đó của các diễn viên là phải diễn rất màu mè và khuếch trương.

Thế nhưng, Gogol đã không làm việc gì tương tự như thế mà đã diễn cực kỳ hiện thực, cẩn trọng và đã bị đánh trượt vỏ chuối vì "không có tài năng" như lời báo cáo của viên chủ khảo với Giám đốc Nhà hát Hoàng đế, Công tước Gagarin. Đó là cái vả đầu tiên của số phận. Còn cái vả thứ hai thì do chính ông tự vả vào mình.

Cảm nhận rất đúng rằng, sức mạnh của nhà hát phải ở trong chủ nghĩa hiện thực chứ không phải ở những sự hoa hoè hoa sói, Gogol lại bắt tay vào viết trường ca đầu tiên của mình "Hanz Kuchelgarten" theo phong cách màu mè và khuếch trương. Và cho in nó bằng tiền túi bỏ ra, dưới bút danh Alov, có ý tuyên bố đây sẽ là bình minh mới đỏ rực của một thiên tài (!).

Thế nhưng, tập trường ca này ngay lập tức đã bị phê phán tơi bời và kinh ngạc trước những lời chê trách, Gogol đã cho người hầu Yakim trung thành của mình đi khắp các hiệu sách mua tất cả những bản trường ca còn lại về nhà trọ đốt. Hình như niềm đam mê lửa và sự tự đốt mình của Gogol đã nảy sinh từ đó!

Nhưng cũng từ đó, công việc của Gogol lại trở nên tốt đẹp hơn. Tới các quầy sách và giở xem các tạp chí, Gogol bỗng nhận thấy nỗi đam mê của người Peterburg đối với  những kỳ thú Ucraina, đặc biệt là những chuyện ma quỷ rùng rợn tới tức cười.

Thế là ông ngồi vào viết rất nhanh tập những truyện tưởng tượng mang đậm màu sắc Ucraina "Những buổi tối ở làng gần Dinkanka" rất xuất sắc. Cuốn sách này đã gây nên cả một làn sóng chú ý của độc giả và quan trọng nhất là được lọt vào mắt xanh của những "trưởng lão văn học" thời đó ở Saint Peterburg là Zhukovsky và Puskin.--PageBreak--

Trong số phận của Gogol, thi hào Puskin có vai trò gần như là một người cha đỡ đầu, còn Zhukovsky - thầy giáo của thái tử - đã trở thành người bắc "nhịp cầu duyên" nối giữa Gogol với Sa Hoàng.

Không có mối quan hệ đó với Sa Hoàng chắc chắn sân khấu Nga đã không bao giờ được nhìn thấy một vở diễn như "Quan thanh tra" vì sự xuất hiện của một tác phẩm sâu cay như thế chỉ có thể có được nếu Sa Hoàng gật đầu. Vở kịch "Quan thanh tra" lần đầu tiên được dựng vào tháng 5/1836.

Sa Hoàng sau khi nhận bản in vở kịch này đã tặng lại cho Gogol một cái nhẫn kim cương. Sa Hoàng còn đích thân xem vở diễn này tại nhà hát Aleksandrinsky, cười nghiêng cười ngả và cuối buổi diễn, đã thốt lên: "Tất cả đều bị giễu, nhất là trẫm!". Gogol đã qua mặt được Sa Hoàng như thế đấy…

Thế nhưng, các nhà phê bình lại không mấy hào phóng lời khen khiến nhà văn cảm thấy choáng. Trạng thái tâm lý của ông trở nên tồi tệ đến mức tới tháng 6/1836, ông đã quyết định ra nước ngoài để "giải khuây"…

Gogol đã tới Saint Peterburg với tư cách một thanh niên tỉnh lẻ, ăn vận theo mốt quê Poltava, đầu đội mũ lông vịt, đi nhẹ như chim nhưng trong công việc đã tỏ rõ bản lĩnh của cỗ máy bất khả chiến bại trên con đường tiến tới cứu cánh.

Ngay cả Puskin cũng có lần phải buột miệng nói rằng, "cần cảnh giác với chàng trai Tiểu Nga này", người đã xin được ở thi nhân mấy cốt truyện cực quý giá (trong đó có cốt truyện của "Quan thanh tra" và "Những linh hồn chết") và đã xếp việc hoàn hảo cho tất cả những chị em gái không chồng của mình và chỉ trong vòng dăm bảy năm - tới tuổi 27 - đã đạt được cực đỉnh vinh quang rồi ra nước ngoài cư trú. Sự thành đạt nhanh chóng và vững bền của Gogol cho tới nay vẫn là mẫu mực đối với tất cả những thanh niên tỉnh lẻ lên lập nghiệp ở chốn phồn hoa đô hội.

Thế nhưng, tuổi trưởng thành của Gogol bị u ám bởi những vấn đề mang tính tinh thần. Trước hết, đó là chuyện phụ nữ. Do hàng loạt nguyên nhân Gogol đã nâng phụ nữ lên quá cao trên số phận của mình và mọi nỗ lực chuyển họ xuống đúng chỗ của họ đều trở thành bi kịch. Những người phụ nữ ông yêu vì sao đấy đều chỉ thấy trong ông một hình ảnh văn nhân kỳ dị, không của cõi đời này…

Và rốt cuộc Gogol không chỉ không một lần cưới vợ mà xét trên mọi phương diện, vẫn là trai tân cho tới khi chết, mặc dầu về tính cách, ông là một người rất nặng nợ nhục cảm. Thành ra suốt đời ông phải vật vã với "cây thánh giá đồng tân".

Có thể Freud tìm được dấu vết nào đó của một lần "diện kiến" bất thành với các nàng Kiều của Gogol. Trong bất luận trường hợp nào, bà mẹ rất cưng chiều con trai của nhà văn, khi nhận được lá thư của Gogol báo tin ông đã phải lòng một nữ thánh và đang đi tới thành phố miền Bắc nước Đức Lubek, đã nghĩ ngay rằng, có lẽ Nikosha của bà đã bị mắc phải căn bệnh hiểm nghèo tế nhị nên phải sang Đức chữa trị…

Rời khỏi nước Nga trên đỉnh cao danh vọng văn chương, lang thang khắp cả châu Âu, cuối cùng, năm 1839, Gogol đã "dừng bước giang hồ" tại thành Rome và chọn một căn hộ trong ngôi nhà trên phố Sistina làm nơi cư trú.

Hiện nay tại ngôi nhà này có tấm biển kỷ niệm: "Nơi đây nhà văn Gogol, tác giả của "Những linh hồn chết" đã sống"… Gogol đã viết "Những linh hồn chết" ở Rome - cuốn tiểu thuyết này được coi là một bộ sách vĩ đại nhất của nhân loại, ngang với "Don Kihote" của Miguel Cervantes…

Chính nhờ nhìn về Tổ quốc từ khoảng cách xa xôi đã giúp Gogol thấy được nước Nga bằng cái nhìn hơi lạ lẫm của viễn khách, tạo cho văn xuôi của ông một vẻ tinh quái đầy thiện cảm. Ông là người đầu tiên đã đưa văn học Nga hội nhập với văn học thế giới.

Thiên tài của Gogol đã tạo cho văn học Nga một nguồn sáng chói lòa nhưng cuộc đời ông có nhiều sự u uẩn. Ngay từ khi còn sống Gogol đã được gọi là thầy tu và người hài hước. Trong các tác phẩm của ông hòa quyện cả hiện thực với vô số những điều giả tưởng, cả cái đẹp lẫn cái sa đọa, cả cái đau lẫn cái tức cười…

Rất nhiều nhà nghiên cứu đau đầu nhưng cho tới hôm nay vẫn không tìm ra được lời đáp rành rẽ cho các câu hỏi: Tại sao Gogol lại không bao giờ lấy vợ? Tại sao ông lại đốt đi tập hai của "Những linh hồn chết" và liệu ông có đốt nó thực không? Và điều gì đã tàn hại nhà văn thiên tài này?

Những năm cuối đời, Gogol bị ám ảnh bởi một căn bệnh kỳ lạ và ông đã mất vào ngày 21/2/1852. Ông được mai táng ở nghĩa địa tu viện Thánh Danilov ở Moskva. Năm 1931, khu vực này bị đóng cửa và người ta phải chuyển hài cốt của nhà văn về nghĩa địa Novodevichie.

Khi đó, người ta mới phát hiện ra rằng, xương sọ của Gogol đã không còn trong quan tài nữa. Có thông tin rằng, xương sọ của Gogol đã được lấy về để ở Viện bảo tàng Bakhrushin ở Moskva từ năm 1909…

PHAN LONG
Theo VNCA

TIN VĂN KHÁC:



BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...