Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2018

Thơ Vũ Trọng Quang: Ngôn ngữ thời số hóa

Nếu chỉ nhìn vào ngôn ngữ ký hiệu hóa thì có thể nói rằng Vũ Trọng Quang đang thể nghiệm một cái gì đó, nhưng theo tôi, không có một sự thể nghiệm nào cả, chỉ là một nhà thơ với hệ thông của riêng mình và… làm thơ cho người đọc, khi thì “đọc”, lúc cần giải mã…
Nhà thơ Vũ Trọng Quang

Cũng không hiểu vì sao tôi lại chọn nhan đề cho bài viết này như trên, biết đâu chừng khi lạc vào thế giới thơ này của Vũ Trọng Quang (VTQ) tôi cũng trở nên điên đột xuất, điên có kỳ hạn rồi chăng? Chỉ biết nhãn tiền là chưa một lần nào tôi mất đến cả năm với gần chục lần để đọc một tập thơ - kể cả thơ Bùi Giáng - với một não trạng lúc vầy lúc khác, để có thể giải mã được dăm điều gì đó trong cuốn thơ này. Và giải mã ở đây khá vất vả vì lẽ giữa tác giả và người đọc là tôi có một khoảng cách khá xa. Và đó vừa là khoảng cách vừa là sự liên tục chẳng khác chi cuộc sống, giòng thời gian ngày - đêm chẳng là vừa đứt quãng vừa liên tục hay sao. Hôm qua - hôm nay & hôm sau chính là như vậy thôi, phải cách nhau ra để mà liên tục; muốn liên tục phải cách nhau ra. Còn não trạng khi đọc thơ VTQ cần là “điên… rất đều”- chữ của một nhà văn nữ được chỉnh sửa cho phù hợp khi bước vào thế giới thơ ngổn ngang của VTQ.

Giấc mơ hoa là cách nói cổ điển của một tình yêu, thường thì nó êm đềm, mơ màng nhưng đó là mơ hoa của hôm qua, còn hôm nay và ở đây giấc mơ bị quậy tưng lên bằng ngôn ngữ cần giải mã, kể cả cách thể hiện những chữ ấy trên giấy cũng trở thành một ký hiệu như bao nhiêu ký hiệu tràn ngập trong nửa sau của tập thơ (Hôm qua - hôm nay & hôm sau - thơ VTQ, NXB Đà Nẵng 2006) mà theo cách nghĩ của tôi, nó là thơ như bao nhiêu thơ khác nhưng được mã hóa, số hóa với cả @, khoảng cách và những ký hiệu… Anh hoa của trung niên thi sĩ có được mời về cũng đành chỉ nghe mà chào thua vì cái thời của tiên sinh, thơ chưa có một lối đi mới nào kiểu như ở chốn này. Trở về với bài Giấc mơ hoa (tr 127) mà tôi rất thích sự nhảy múa của ngôn ngữ, sẽ gặp

 “qua gặp lại hoa trên thảo nguyên cỏ mượt mọc tới chân
trời
nghiêng mình bẻ cong bẻ dòng vắt dòng vắt giò
lên cổ…

nghe lục cục lòn hòn như thế và đấy chỉ là một khoảng cách cho sự đáo để “điên… rất đều”:

tay qua mân mê tham tới rốn
tay hoa tay đẩy tay đây
đừng anh đừng anh đừng anh đừng anh anh”

chỉ tham tới rốn là “điên…rất đều” và không làm tan giấc mơ hoa vì tình yêu trong ngần chỉ bị đứt một khỏang cách nhỏ giữa  “thiện và ác”.

Tôi còn nhận ra, khi trích thơ VTQ, cũng cần chú ý đến cách trình bày bởi đó là một phần thơ ông. Tại các trang 131,132,133 có các bài Eros, Ký hiệu liên tưởng đọc rất khoái mà tôi đoán là nó rất thơ, rất đa tình, khóai nhưng trích dẫn ra đây thì vì không biết nhiều vi tính đành… mù tịt. Bài thơ là những mũi tên sắp thành hình tháp, cái đáy khá rộng, rồi đảo thành tháp ngược thu hẹp lại chỉ còn một mũi cắm phập vào trái tim ai đó- một người bị trọng thương,là tác giả hay một người khác phái nào thì vẫn không khác, ở điểm là có một bi kịch mang tính thân phận con người trong tình yêu.Nhiều người làm thơ diễn tả bằng hệ thống ngôn ngữ, ở đây thì bằng những mũi tên xếp thành hình tháp lúc xuôi, lúc bị lật ngược gây cảm giác đau đớn mà những ai một lần yêu có thể trải nghiệm với bài thơ đầy ẩn dụ này. Và đấy chính là ngôn ngữ trong hệ thống VTQ…

Thường thì tôi không có thói quen “bình” thơ người khác vì hình như đó ít nhiều đều có chút không khiêm tốn và nhất là “bút phán quan” rất chán, cho nên chỉ đọc và ngấm ngầm giải mã (không phải bao giờ cũng thành công) cấu trúc ngôn ngữ, hình ảnh, ý tưởng và cảm xúc, bao nhiêu là thứ thụ hưởng cho hết thật khó lòng. Cũng không cần gì phải nói VTQ thể nghiệm một cái gì trong thơ, nhà thơ chỉ nói bằng hệ thống của riêng anh, không trình làng một “mô hình” nào cả, nó giống như mỗi người có một dấu vân tay của riêng người đó. Một hoang phế nửa chừng theo thời gian, trong khi những người khác tìm cách phục chế phần vật chất của Mỹ Sơn (tr.94) thì VTQ kết nối được cái xưa và nay:

“Con chim gì đó ơi
thả rơi tiếng hót lạ
có phải gọi bầy nhau từ kiếp trước
Kiếp trước lịch sử lớp lớp sóng
thành quách phủ rêu ngòai vùng phủ sóng
dưới phố em phủ váy thời trang gần tới Yoni gây sóng
Nào có thể phục chế những linh hồn
đang mở mắt

Thật kinh hãi khi đọc hai câu cuối nếu có quan tâm một chút đến lịch sử, quá khứ được thông quan qua cửa hệ thống của nhà thơ, không phải sự hoài cổ bình thường bởi quá khứ còn “đang mở mắt” giả như ngủ ra đó. Ở một nơi khác, Phản đề:

chiều phố rượu
con mèo con chó con chuột

là những cặp đối nghịch nhau nhưng thiếu chúng liệu còn sự bình thường đến yên ổn của cuộc sống? Và, ai dám bảo chim rừng tự do hơn chúng? Hoang dã là phản đề của chính nó.

tự do hơn chim rừng
hoang mai hướng dương vạn thọ
tự do hơn hoa rừng

Nếu chỉ nhìn vào ngôn ngữ ký hiệu hóa thì có thể nói rằng VTQ đang thể nghiệm một cái gì đó, nhưng theo tôi, không có một sự thể nghiệm nào cả, chỉ là một nhà thơ với hệ thông của riêng mình và… làm thơ cho người đọc, khi thì “đọc”, lúc cần giải mã. Thế thôi! Thói quen “vạch một chân trời” không cần trong một thời đại có rất nhiều chân trời như hiện nay.

CAO THOẠI CHÂU
Nguồn: Trích trong tạp bút Vớt lá trên sông,
NXB Hội Nhà văn 2010


Nhà văn Trần Nhã Thụy: Văn chương không còn là ngôi đền thiêng

“Thời nay văn chương không còn là ngôi đền thiêng, tác phẩm văn chương cũng dần rời bỏ những “đại tự sự” tìm về cái tôi nhỏ bé mộng mơ, cái tôi người phàm... Tôi nghĩ văn chương, dù chúng ta gán cho nó những thiên chức như thế nào thì cũng luôn có chức năng giải trí. Tuy nhiên, văn chương thực sự có khả năng xáo trộn tình cảm, đánh thức lương tri...”
Nhà văn Trần Nhã Thụy

Trên thị trường vài năm qua đã có sự xuất hiện của không ít tác phẩm ăn khách của các tác giả trẻ. Nhà văn Trần Nhã Thụy, Trưởng ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn TP.HCM, đã trả lời phỏng vấn Thanh Niên về câu chuyện nhà văn trẻ hiện nay.

* Anh đánh giá ra sao về lực lượng người viết trẻ hiện nay của cả nước và đặc biệt tại TP.HCM?

- Nếu nhìn tổng thể về mặt... quân số thì tôi thấy khá hùng hậu, đến mức một người chưa đến nỗi già, và cũng chịu khó đọc như tôi cũng bắt đầu cảm thấy mình lạc hậu. Nhiều tên tuổi mới toanh mà mình không biết đó là ai, viết cái gì và như thế nào. Bởi bây giờ, cái cách xuất hiện của một cây bút không còn “truyền thống” như trước, tức là: có truyện đăng báo, in chung tập sách rồi in riêng, dần dần tạo tên tuổi. Bây giờ, đùng một phát, các bạn in luôn sách. Đó là điều mà tôi nghĩ là hết sức khác biệt và cũng đáng suy ngẫm.

Theo thống kê của các đơn vị xuất bản, các cây bút trẻ có sách bestseller hầu hết nằm ở TP.HCM như Nguyễn Phong Việt, Anh Khang, Hamlet Trương... Điều này cho thấy sức mua ở TP.HCM là đáng kể, còn nghệ thuật viết cũng như chất lượng của những cuốn sách 100.000 bản này như thế nào thì tôi nghĩ chắc phải cần nhiều cuộc tọa đàm với nhiều chuyên gia mổ xẻ mới có thể thu hoạch được điều gì đó.

* Anh có thấy trào lưu, tác giả nào đáng chú ý trong văn học trẻ hiện nay? Và theo anh vì sao lại đáng chú ý?

- Tôi nghĩ thưởng thức tác phẩm văn chương là theo gu của mỗi người, không nên áp đặt. Với cá nhân tôi, trong vài năm gần đây, tôi thấy có mấy tên tuổi ấn tượng: Ngô Liêm Khoan (thơ), Phan An (văn xuôi), Mai Anh Tuấn (phê bình). Còn về trào lưu sách “ngôn tình tản mạn”, do không phải gu đọc, nên tôi không có ý kiến gì.

* Vừa qua, có cuộc tranh luận về "văn chương thị trường" của các cây bút trẻ ăn khách, xin chia sẻ về quan điểm của anh trong chuyện này.

- Tôi nghĩ, bất kỳ tác giả nào cũng có độc giả của riêng mình và khi sách phát hành thì phải có một thị trường. Là người viết, tôi nghĩ bất kỳ ai cũng sẽ thấy sung sướng khi sách mình bán chạy. Tôi không nghĩ là có những tác giả viết ra những cuốn sách hay mà... bí hiểm hay cao siêu tới mức... không có ai mua về đọc. Do đó, tôi chân thành chia sẻ niềm vui với các nhà văn có sách bán chạy và thú thật tôi cũng... thèm có sách bán chạy như họ chết đi được ấy chứ (cười).

* Một số độc giả cho rằng các tác giả trẻ thường viết chỉ nhằm thỏa mãn cá nhân, tác phẩm thiên về tản mạn tình cảm, kiểu dạng “đọc cũng được, không đọc cũng không chết ai”, chứ chưa mang lại nhiều tác động tích cực cho xã hội. Anh có đồng ý với điều này?

- “Đọc cũng được mà không đọc cũng chẳng sao”, tôi nghĩ là đúng với mọi thời, mọi tác giả và mọi tác phẩm, không phải là bây giờ và chỉ với tác giả trẻ. Chúng ta nên hiểu rằng mỗi thời mỗi khác. Thời nay văn chương không còn là ngôi đền thiêng, tác phẩm văn chương cũng dần rời bỏ những “đại tự sự” tìm về cái tôi nhỏ bé mộng mơ, cái tôi người phàm... Tôi nghĩ văn chương, dù chúng ta gán cho nó những thiên chức như thế nào thì cũng luôn có chức năng giải trí. Tuy nhiên, văn chương thực sự có khả năng xáo trộn tình cảm, đánh thức lương tri...

Nếu như những ai từng là “mọt sách” đều thấy những tác phẩm văn chương thực sự, sống bền lâu trong lòng độc giả, bao giờ cũng có một ngôn ngữ độc đáo, cấu trúc đặc biệt, nhân vật lạ lùng… Văn chương thực sự có ít thôi, còn những cái na ná văn chương, cận văn chương thì nhiều. Và, bất kỳ người viết nào cũng phải vượt qua chính mình để cho ra đời những tác phẩm văn chương độc đáo.

* Vậy theo anh, phải làm gì để có những tác phẩm văn trẻ chất lượng cao hơn nữa?

- Theo tôi, nên tôn trọng và để cho những người trẻ tự do sáng tạo. Mọi định kiến và dạy dỗ, chưa bao giờ là hữu hiệu đối với sáng tạo văn chương.

LUCY NGUYỄN
Nguồn: TNO


Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Nhà thơ “hóa giải nỗi buồn bằng sự thấu hiểu lẽ đời và quy luật”…

Nhà thơ Thu Nguyệt sinh năm 1963 tại Cao Lãnh, Đồng Tháp. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện chị công tác ở Báo Tuổi trẻ TP.HCM. Thu Nguyệt viết ở nhiều thể loại, riêng về thơ của chị tập trung nhiều trong các tậpĐiều thật (1992), Ngộ (1997), Cõi lạ (2000), Hoa cỏ bên đường (2002),  Theo mùa (2006). 
Nhà thơ Thu Nguyệt

Điểm khác biệt giữa Thu Nguyệt với các nhà thơ nữ cùng thời đó là Thu Nguyệt chọn cho mình một lối đi riêng. Thơ chị dịu dàng, đằm thắm, không đưa ra những phát ngôn gây sốc hay thể hiện một cách mạnh mẽ táo bạo cái tôi cá nhân. Chị cũng không chạy theo trào lưu viết mới theo dấu ấn hiện đại, hậu hiện đại như nhiều người. Chị lặng lẽ viết trên lối thơ truyền thống. Với nhà thơ Thu Nguyệt, chị quan niệm: “Viết theo truyền thống hay hiện đại không quan trọng, cái quan trọng là chuyển tải được gì vào trong thơ và làm sao gây được sự cảm tình đối với độc giả mới là cái đáng quan tâm nhất”.

Thu Nguyệt nhìn cái gì cũng có sự dung hòa, biện chứng, cái gì với chị cũng đều theo quy luật. Chính vì vậy cho nên, dù thấy trong thơ chị có nhiều nỗi buồn nhưng đó là cái buồn man mác, cái buồn vừa phải, không quá bi lụy, sầu thảm hay tuyệt vọng. Nỗi buồn trong trẻo, lấp lánh những tia hi vọng. Chị biết tiết chế nỗi buồn và hóa giải nó… Đọc thơ chị, người đọc nhận thấy: Thu Nguyệt - Nhà thơ “hóa giải nỗi buồn bằng sự thấu hiểu lẽ đời và quy luật”. Chị bình tâm suy xét, nghĩ suy về những điều xảy ra trong đời sống với cái nhìn đầy trách nhiệm, bao dung, tỉnh táo, bản lĩnh và đầy tự tin.

Ta ngồi ngắm mãi bàn tay
Ngửa rồi lại úp, ngắn dài trắng đen…
Biếng lười đếm giọt nhớ quên…
Nhẹ không…
                      lòng cứ hồn nhiên với buồn

                         (Hồn nhiên)

Điều mà Thu Nguyệt quan tâm nhất đó là vấn đề thời gian. Có những điều làm cho nhà thơ trăn trở, day dứt khôn nguôi, tưởng khó có thể lý giải; phải ngược về quá khứ, hướng đến tương lai mới có thể an lòng:

Ta tìm hoài gió trong nhau
Gió tan lại miệt mài đau suốt đời
Ta quên có một bầu trời
Bên ngoài ngọn gió có rồi lại tan

                        (Gió tan)

Từ Đồng Tháp chuyển về Sài Gòn công tác, trong chị không bao giờ quên mảnh đất quê hương nơi đã chôn nhúm rau mình ở đấy. Nơi gắn bó với bao ký ức niềm thương, với ông bà, cha mẹ, người thân, gia đình, hàng xóm, ruộng đồng, bờ bãi, sông nước… Vùng đất Đồng Tháp Mười đã ăn sâu trong từng tế bào, từng huyết mạch của chị. Do vậy, Thu Nguyệt nhớ lắm, nhớ những gì dân dã, chân quê của xứ sở mình. Dù đang sống nơi phồn hoa, phố thị nhưng chị vẫn canh cánh.

Thị thành dù giáp dấu chân 
Nằm mơ vẫn nhớ lời dân miệt đồng 

                       (Bến lở 

Cái gốc quê không chỉ là máu thịt mà nó còn hun đúc bởi cái nôi văn hóa của vùng đồng bằng sông nước Cửu Long. Nỗi nhớ quê, nhớ cha lại trào dâng trong chị.

Đồng ruộng quê mình làm bằng dấu chân ba 
Từ đấy cần cù mọc lên ngọn lúa 
Con lớn lên trên cánh đồng ngậm sữa 
Đứng nơi nào cũng trên dấu chân ba 

                          (Dấu chân Ba

Để rồi nhà thơ tự giãi bày: Ta ra thành phố xa đồng/ Đốt nhang nhìn khói bay vòng mà thương/ Nhớ cồn cào nước kinh mương/ Vắng mình rải lá xem đường nước trôi/ Đã xa thì lỡ xa rồi/ Buồn! Đem thau nước ra soi bóng mình.

Chính quan điểm sống nó đã tạo nên cốt cách con người thơ và con người trong đời sống thường nhật của nhà thơ Thu Nguyệt. Con người thơ - và con người trong đời sống hòa làm một.

Điểm nổi bật và xuyên suốt trong thơ Thu Nguyệt đó chính là chị hướng đến và tìm đến cõi Thiền. Chùa, Thiền, Thiền sư, tiếng chuông, Chân Như, Bồ Đề, tu hành, tâm, ngộ, duyên, kiếp, bụi, nhang, đèn, phù du, vô thường… là những từ thường được chị sử dụng.

Kiếp phù du, giấc phù hoa
Lấy ai ru đá giùm ta sau này ?!
Thôi thì đá ngủ cho say
Để rồi thức giấc ngày mai một mình

                                 (Ru đá)

Lời thơ nhẹ nhàng, trôi chảy cùng với dòng cảm xúc vô tận tạo nên những ấn tượng, dư ba.

- Giá được làm cỏ dại lan man
Vơ vẩn sống, phất phơ đời bên tháp
Vui với nắng sương, mưa trùm gió đập
Lặng lẽ đâm chồi, ta tự trùng tu

                        (Tháp Chàm)

- Nẻo tu hành cứ chung chiêng
Bước trầy bước trật… ưu phiền lắc lư

                              (Thiền giả)

- Gió nương mái cũ đi nhờ
Hiên nhà dấu nước vẫn chờ giọt mưa

                                  (Vẫn y)

Nỗi buồn trong thơ chị bộc lộ nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau nhưng theo chị tất cả đều có nguyên nhân. Chị quan niệm: cuộc sống con người trên trần thế chỉ là cõi tạm. Chính vì cõi tạm cho nên phải sống đúng nghĩa là con người, sống trọn vẹn, tha thiết với tình yêu và cuộc đời, sẵn sàng đón lấy và chấp nhận những buồn - vui như một sự thật hiển nhiên.

- Bước qua không nỗi chữ ngờ
Vô thường áp sát, bến bờ quá xa!

                                   (An)

- Buồn vui như một cái vòng
Điểm đầu tiên, điểm cuối cùng gặp nhau

                                (Hồn nhiên)

Bước đi là bỏ lại rồi 
Hành trang khéo giữ một thời cũng phai 
Thạch sùng nát lưỡi ru ai: 
Muốn về chốn cũ phải quay lại mình.

                   (Bước đi là bỏ lại rồi)

- Muốn được an (alt) cũng bó tay
Đời như kiếp chuột cứ xoay vòng vòng…

                           (Keyboard thơ)

Ta băng qua sự buồn phiền 
Hiểu điều đã mất tự nhiên mãi còn ...  

                         (Sao đổi ngôi)                 
              
Giữa mơ và thực luôn là khoảng cách. Chị nhìn đời bằng con mắt thực tế nhưng cũng ngập tràn cảm xúc trữ tình, man mác.

- Con quỳ trước Phật từ bi/ Sao lòng vẫn nặng nỗi gì đa đoan/ Dám mơ đâu chút Niết Bàn/ Chỉ mong ngày động, tâm an một giờ (An).

- Lẽ đời nắng tắt mưa tuôn
Ta không có bóng vẫn còn có ta
Không cần trái, chẳng cần hoa
Xanh xanh vài chiếc lá là có cây
Lộc non chăm chút tháng ngày
Vậy rồi...
                ta thả lá bay theo mùa.
                      (Theo mùa)

Cám ơn sự vật vô thường 
Để cho ta có khi buồn khi vui 
Vô thường tất cả, trừ... tôi 
Là chi cũng mãi khi vui khi buồn! 

                      (Vô thường)

Rủ sạch mình, em bước qua đêm 
Vo viên giấc mơ ném vào ngọn sóng 
Nhón gót đi giữa biển đời sâu rộng 
Xe cát hai hàng giọt nước mắt sau chân.

                  (Huyền thoại dã tràng)

Những bài thơ như: Chùa xa, Ước, Ru đá, Miền không bay… đưa người đọc đến ranh giới giữa thực và ảo, giữa xao động và bình yên. Đó là lúc thi sĩ đã chạm đến cõi Thiền - thâm nhập vào tận cùng mọi ngõ ngách của tâm hồn, kiếm tìm bản thể để hiểu mình, hiểu đời và tự giải thoát cho mình sau bao thăng trầm, nếm trải, bao vận hạn, tai ương…

- Tháng ngày nhẹ hững đi qua
Những điều gần đó rồi xa… thật thường!

                          (Sẽ đến rồi qua)

- Nghe lòng rung một hồi chuông
Tiếng vang như có lại dường như không

                               (Chùa xa)

- Gió lùa theo hướng chữ DUYÊN
Ta bay chung để đến miền không bay”.

Thơ lục bát có lẽ là một sở trường của nhà thơ Thu Nguyệt. Lục bát là một trong những thể thơ đậm chất trữ tình. Nó bắt nguồn từ ca dao, dân ca và thơ lục bát mang cốt cách Việt Nam. Cuộc sống bình dị của người lao động đi vào ca dao thông qua thể thơ lục bát dễ đi vào lòng người đọc và có sức lan tỏa. Từ văn học truyền miệng đến văn học viết, thể thơ này không ngừng được phát triển và đến ngày nay nó vẫn được kế thừa một cách có sáng tạo, có cách tân trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật.
Khảo sát thơ của Thu Nguyệt, ta thấy thơ lục bát chiếm số lượng lớn và nó đã góp phần không nhỏ tạo nên sự thành công của thơ chị. Ở thể thơ này Thu Nguyệt có nhiều bài thơ hay, hàm súc và ý vị, gây được ấn tượng sâu sắc đối với bạn đọc (Lá giả, Theo mùa, Gió tanMiền không bay, Hồn nhiên…).
Đọc bài Lá giả gợi cho người đọc bao câu hỏi, bao suy ngẫm về con người, cuộc đời. Hóa ra kiếp người cũng chẳng khác chi kiếp lá (lá giả) - là tạm bợ, là tự “cải trang”. Chỉ có cái thật là bụi - những hạt bụi đời đeo bám. Chính vì là giả, cho nên chiếc lá giả kia không thực hiện được điều mà lẽ ra theo quy luật tự nhiên nó phải đạt được. Kết quả là “Cả đời làm một cuộc rơi không thành”…

Tuy nhiên, Thu Nguyệt không phải chỉ có kế thừa ca dao, dân ca. Thơ lục bát Thu Nguyệt vẫn mang hơi thở của thời đại. Nhà thơ đã mang đến cho thơ lục bát một không khí mới, một sắc thái mới: với những cách tân, sáng tạo độc đáo; tạo nên những vần thơ tươi mới, rộn ràng mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Hạt nhân làm nòng cốt cho cái mới của Thu Nguyệt là ở cảm xúc, ở dấu ấn cá nhân.

Cùng với tình yêu, thơ Thu Nguyệt viết về những mối quan hệ khác nhau xung quanh tình yêu, gắn bó và tiếp nối với tình yêu.

Trót sinh con buổi trăng rằm
Cho nên chữ hiếu như trăng khuyết tròn
Lạy ba lạy má đừng buồn
Xưa nay mưa nước từ nguồn đổ xuôi…

(Lời ru)

Đến với thơ Thu Nguyệt, người đọc sẽ tìm thấy một sự đằm thắm, dịu dàng và rất nữ tính. Đó là một thế giới tâm hồn có vẻ như khép kín mà luôn mở rộng, luôn chuyển tiếp, trôi chảy, hướng về ngoại vật, hướng về mọi người. Niềm vui, nỗi buồn được chị nhìn nhận và hóa giải nó trong thơ một cách tự nhiên. Đấy cũng là sức hấp dẫn khiến bao trái tim người đọc cứ mãi say sưa trong vườn thơ của chị

NGUYỄN VĂN HOÀ
Nguồn: VHQN

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

Vũ Hạnh và những tác phẩm lý luận phê bình văn học ở miền Nam trước 1975

"Vũ Hạnh là một trong những cây bút khá nổi bật với rất nhiều bài viết, nhiều công trình lý luận - phê bình được xuất bản trên sách báo ở miền Nam, trong đó hai công trình tiêu biểu là Đọc lại Truyện Kiều (Cảo Thơm xb, 1966) và Tìm hiểu văn nghệ (Trí Đăng xb, 1970)".
Nhà văn Vũ Hạnh

1. Nếu hình dung lý luận - phê bình văn học ở miền Nam trước 1975 là một dòng sông có nhiều nhánh chảy qua những bãi bờ khác nhau, thì khuynh hướng lý luận - phê bình Mác-xít là một nhánh sông hiện hữu như một thực thể sinh động trong dòng sông lý luận - phê bình ấy.

 Sự phát triển của một bộ phận văn học không chỉ được xem xét ở lĩnh vực sáng tác mà còn phải xem xét đến hoạt động lý luận - phê bình. Chính ở lĩnh vực này, bao giờ cũng thể hiện sự chín chắn và bền vững của bộ phân văn học ấy. Vì vậy, sự hình thành khuynh hướng lý luận - phê bình chịu ảnh hưởng của tư tưởng Mác-xít trong đời sống văn học ở miền Nam lúc bấy giờ đã khẳng định sự trưởng thành của bộ phận văn học yêu nước và cách mạng mà điều dễ nhận biết là sự hình thành đội ngũ các nhà lý luận - phê bình. Trong đội ngũ này có một số cây bút lý luận - phê bình mà ảnh hưởng không chỉ trong khuynh hướng phê bình mác xít mà còn ảnh hưởng đối với cả đời sống lý luận - phê bình văn học như: Vũ Hạnh, Lữ Phương, Nguyễn Trọng Văn, Trần Triệu Luật, Cô Thanh Ngôn, Lê Nguyên Trung… Trong đó, có thể nói, Vũ Hạnh là một trong những cây bút khá nổi bật với rất nhiều bài viết, nhiều công trình lý luận - phê bình được xuất bản trên sách báo ở miền Nam, trong đó hai công trình tiêu biểu là Đọc lại Truyện Kiều (Cảo Thơm xb, 1966) và Tìm hiểu văn nghệ (Trí Đăng xb, 1970). Nhưng có lẽ Đọc lại Truyện Kiều là một trong những tác phẩm phê bình để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc nhất không chỉ ở tư duy độc đáo, mà còn ở vẻ đẹp ngôn ngữ phê bình với nhiều cá tính sáng tạo. 

2Đọc lại Truyện Kiều cho thấy một bút lực sung mãn, một tư duy phê bình tinh tế, nhạy cảm và sắc sảo. Những vấn đề đặt ra trong tác phẩm luôn đem đến cho người đọc những bất ngờ thú vị từ những liên tưởng do tác giả gợi lên. Các bài viết như "Đứa con của nàng Kiều", "Từ Hải sự lỡ tay của thiên tài", "Những khuôn mặt tình yêu trong Truyện Kiều" là những bài viết như thế.

Có thể nói, việc nghiên cứu Truyện Kiều của Nguyễn Du ở miền Nam trước 1975, không chỉ có Vũ Hạnh mà còn có một số công trình của các tác giả khác như Trần Thanh Hiệp với "Để giải quyết mâu thuẫn trong Đoạn trường tân thanh" (Sáng tạo số 6/1957); Nguyên Sa với "Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do" (Sáng tạo số 12/1957), Nguyễn Văn Trung với Vụ ánTruyện Kiều... Nhưng ở Đọc lại Truyện Kiều mọi vấn đề được Vũ Hạnh nhìn nhận từ một hệ qui chiếu khác so với các nhà phê bình ở miền Nam. Đó là hệ qui chiếu của kiểu phê bình xã hội học chịu ảnh hưởng mỹ học Mác xít. Ở đây ông không giải mã Truyện Kiều theo quan điểm duy tâm siêu hình mà giải mã nó trên cơ sở của quan điểm duy vật. Vì vậy Đọc lại Truyện Kiều của Vũ Hạnh đem đến cho độc giả một cái nhìn mới, một cách nghĩ mới so với các bài viết về Truyện Kiều ở miền Nam lúc bấy giờ. Những vấn đề được ông nói đến là những vấn đề có ý nghĩa xã hội, liên quan đến số phận con người. Chẳng hạn vấn đề " Đứa con nàng Kiều" được tác giả đặt ra không chỉ là sự trào lộng hay lạ hóa mà đó là vấn đề mang tính nhân văn về quyền được làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ. Và đây cũng là một bi kịch trong chuỗi bi kịch của đời Kiều đã bị xã hội tàn bạo ấy vùi dập. "Trong cái cảnh ngộ làm vợ hờ thường trực của người mình yêu tha thiết, Kiều sẽ có dịp thường xuyên để thấy thân phận đàn bà chịu thiệt thòi của nàng. Xã hội phong kiến thấy nàng hy sinh quá nhiều cho trật tự ấy suốt mười lăm năm, nên đã cho nàng tái ngộ như một tặng thưởng. Nhưng đấy chỉ là một huy chương giả. Bởi vì (....) Rốt cuộc, Kiều chẳng có chồng, Kiều chẳng có con, chỉ có mỗi một mớ danh từ tuyệt đẹp" [1]. Vũ Hạnh cũng rất tinh tế và có lý khi chỉ ra thực chất cái ngày gọi là "đoàn viên" mà Nguyễn Du tạo nên trong Truyện Kiều: "Nếu ta nghĩ kỹ về cái tội ác mà chế độ ấy gây nên cho Kiều, và nghĩ kỹ nữa về cái ân huệ đoàn viên mà nó ban phát cho Kiều, ta sẽ thấy rằng chung qui là để làm lợi cho chế độ ấy mà thôi. Đày đọa con người vào tủi nhục, rồi ve vãn người nuốt lấy tủi nhục, đó là thực chất của chế độ phi nhân với hai đặc tính : tàn bạo và điêu ngoa" [2]. Lý giải về tình yêu trong Truyện Kiều, Vũ Hạnh đã không siêu hình hóa tình yêu, mà nhìn nó trong mối quan hệ với cuộc đời thực. Ông không những nhìn thấy một khuôn mặt tình yêu mà thấy nhiều "khuôn mặt tình yêu" trong Truyện Kiều với những dằn xé, khổ đau, những hạnh phúc và bất hạnh đan xen nhau vây khốn cuộc đời bé nhỏ của Kiều. Ông chỉ rõ chế độ xã hội đã chà đạp cuộc đời Kiều. Từ đó, ông khẳng định một vấn đề có tính qui luật, trong xã hội thối nát sẽ không có chỗ cho con người lương thiện tồn tại. Và tất nhiên, xã hội ấy không thể dung nạp được "cái đẹp" cho dẫu đó là cái đẹp của tình yêu: "Đoạn Trường Tân Thanh đã cho ta thấy nàng Kiều là người tình nhân tuyệt vọng. Phần kiểu mẫu ấy thuộc hẳn về nàng. Vì nàng biết yêu- như đã trình bày- một cách chủ động bình đẳng, với những ý tình tha thiết và một ý hướng bảo vệ lâu dài. Phần tuyệt vọng ấy thuộc về cuộc đời, bởi vì xã hội sâu xa không thể tiếp nhận ý tình tốt đẹp. Truyện Kiều xét trên bất cứ khía cạnh nào cũng thấy biểu hiện của sự hủy hoại, hủy hoại do một khung cảnh dơ bẩn không dung nạp được con người trong sạch" [3]. Ở đây, Vũ Hạnh không nhìn khổ đau của đời Kiều với điểm nhìn duy tâm siêu hình mà ông đã nhìn vấn đề này dưới góc nhìn xã hội. Do đó, theo ông, muốn có hạnh phúc, muốn bảo vệ được tình yêu chân chính đòi hỏi con người phải đấu tranh không ngừng, không chỉ đấu tranh cho tình yêu của mình, mà còn đấu tranh để xây dựng một xã hội tốt đẹp. Vì "đấu tranh cho con người yêu đương lý tưởng không thể nào tách biệt khỏi sự nghiệp đấu tranh cho một xã hội có những điều kiện bảo đảm hữu hiệu cho sự tồn tại, phát triển của con người ấy"[4].
Đối với nhân vật Từ Hải, Vũ Hạnh cũng có nhiều nhận xét khá tinh tế và sâu sắc khi cho rằng: "Từ Hải là sự lỡ tay của thiên tài Nguyễn Du". Ông đã nhìn thấy ở Từ Hải khát vọng của tự do và công lý. Từ Hải không chỉ là "sự bù đắp cho Kiều" mà theo Vũ Hạnh "Từ là hiện thân của một phản ứng, của lòng khao khát đền bù của một đòi hỏi quân bình có thể đồng nghĩa với sự đòi hỏi công bình, một thứ công bình lý tưởng về người, về đời, vọng lên bất cứ nơi nào còn có đày đọa tủi hờn"[5]. Chính vì vậy, Vũ Hạnh rất xót xa trước cảnh Nguyễn Du để cho Từ Hải đầu hàng. Như thế, Từ Hải đã trở thành một thứ " ảo ảnh" của một thứ bọt xà phòng và nguy thay "cái bọt xà phòng Từ Hải đã chạm khung cửa đầu hàng. Ảo ảnh đi vào thực tại trông thực vô cùng nghễnh ngãng. Từ Hải chung qui là sự lỡ tay của cụ Nguyễn Du"[6]. Rõ ràng với những gì đã phân tích, Đọc lại Truyện Kiều đã thể hiện rõ ảnh hưởng tư tưởng phê bình Mác xít. Đây không chỉ là tác phẩm phê bình văn học có giá trị của lý luận - phê bình văn học ở miền Nam  còn là của nền lý luận - phê bình văn học dân tộc.

Bên cạnh Đọc lại Truyện Kiều, Vũ Hạnh còn có Tìm hiểu Văn nghệ. Đây là tác phẩm được viết trên cơ sở ảnh hưởng tư tưởng của mỹ học Mác xit, tiêu biểu ở các bài: "Văn nghệ, một hình trạng ý thức", "Chức vụ cao cả của văn nghệ", "Văn nghệ tác động như thế nào", "Văn nghệ phản ánh bản chất thực tại", "Bên trong văn nghệ sĩ và bên ngoài cuộc đời". Đặc biệt, trong bài "Một số biểu hiện tiêu cực trong văn nghệ", xuất phát từ quan điểm văn học phải gắn với thực tại, Vũ Hạnh đã phê phán tính chất thoát ly ở những tác phẩm văn chương của miền Nam lúc bấy giờ, đó là : "Sự thoát ly bằng một ngã lối êm đềm, ngã lối ái tình" trong những tác phẩm tiểu thuyết diễm tình ; là "sự thoát ly bằng một ngả lối mơ hồ của loại sách hoang đường quái đản", trong các tiểu thuyết võ hiệp; là "sự thoát ly vào những con đường dĩ vãng để ngồi ôn lại chuyện cũ, tích xưa hầu dễ dàng lãng quên cuộc đời trước mắt"; là "sự thoát ly bằng cách trốn vào con đường ngóc ngách của những tâm lý cá nhân"; là "sự thoát ly vào những dặm đường khúc mắc của những quan niệm triết học lỗi thời ". Vũ Hạnh cho rằng: Tất cả những biểu hiện trên làm cho đời sống văn nghệ ở miền Nam "héo hắt, rời rạc, thiếu hẳn sinh khí, sinh lực", ảnh hưởng xấu đến người tiếp nhận, làm giảm đi "ý thức tự tin, tự cường nơi lòng người đọc, đem cái phù phiếm, phiêu lưu thay thế cho cái nhiệt tình chính đáng cùng những ảo ảnh xa vời che dấu cả cái thực trạng cần được cải thiện không ngừng" [7]. Từ đó, tác giả xác định rõ trách nhiệm của người làm văn nghệ là phải "có ý thức về sứ mệnh của mình, phải đứng về phía đông đảo con người chịu những thiệt thòi để đấu tranh cho tự do dân chủ chân chính. Đó là con đường vinh quang của văn nghệ sĩ" [8].

Ngoài hai tác phẩm trên, do nhiệm vụ của người chiến sĩ hoạt động trên lĩnh vực báo chí và văn học, nên ngòi bút phê bình của Vũ Hạnh còn tung tẩy trên tất cả các thể loại từ phê bình thơ, truyện, tiểu thuyết, kịch, khảo luận văn học... như phê bình bộ ba tác phẩm tiểu thuyết: Dì Mơ (1959), Mùa ảo anh (1963), Những người đang đi tới (1964) của Đỗ Thúc Vịnh, hay thế giới tiểu thuyết của Sơn Nam với những tác phẩm tiêu biểu như Hương rừng Cà MauChim Quyên xuống đất và Hình bóng cũ. Với Sơn Nam, ngòi bút phê bình của Vũ Hạnh đã có những phát hiện tinh tế, những lời phê bình bóng gió xa xôi nhằm thức tỉnh lòng yêu nước và ý thức về tổ quốc quê hương: “Ở Chim Quyên xuống đất, tác giả viết về anh Sĩ nhưng điều đáng tiếc là không hiểu rõ được anh Sĩ - hoặc không dám hiểu anh ta nên chỉ vẽ một nhân vật chơi vơi, ngơ ngác giữa cái không khí mơ hồ đầy những chuyện xưa tích cũ xen kẽ những lời kêu gọi đâu đây về một tổ quốc cũng mơ hồ nốt, trong khi hai chân kéo lê trên những quãng lầy lội của một cuộc sống thét gào cơm áo hằng ngày” [9].

Không chỉ thức tỉnh lòng yêu nước, tinh thần hướng về nguồn cội mà trong những bài phê bình, Vũ Hạnh luôn khẳng định quan điểm văn chương của mình, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người cầm bút. Với ông nhà văn là “con người nhưng phải là con người ý thức" [10]. Vì thế, Vũ Hạnh đã phân tích một cách sâu sắc yếu tố “thác loạn” trong tác phẩm của Chu Tử mà theo ông “ trong các món hàng gọi là ăn khách của Chu Tử người ta thấy một cuộc sống thác loạn, bừa bãi chi phối bởi hai động cơ chính yếu là Tình và Tiền. Nhân vật trong truyện đều không có một lý tưởng nào hết – dù có bảo rằng đã thất vọng vì lý tưởng – và hầu như không có một lý trí rõ rệt. Đó là mẫu loại con người hư hỏng, ngụy biện, ích kỷ và sa đọa có nhiều xuẩn động bản năng hơn là suy tưởng vững chắc” [11].

Ở lĩnh vực kịch ông cũng phê bình tình hình phát triển kịch ở miền Nam trong những năm 1959, 1960, 1961... trong đó đi sâu tìm hiểu, đánh giá hai vở kịch nổi lên trong năm 1962 là vở Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan và Người viễn khách thứ mười của Nghiêm Xuân Hồng.

Với Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan, Vũ Hạnh cho rằng: "Thành Cát Tư Hãn có thể phản ánh một tấn bi kịch trong tâm hồn của Vũ Khắc Khoan" [174, tr.92]. Còn với vở Người viễn khách thứ mười của Nghiêm Xuân Hồng, ta bắt gặp một thứ "ảo tưởng quá dày quá lớn về mình và ở cuối đường đuổi bắt phiêu lưu, họ sẽ gặp niềm tuyệt vọng như là định mệnh" [12]. Về thể loại thơ, bên cạnh những bài phê bình mang tính tổng kết về thơ của một số năm, Vũ Hạnh cũng viết một số bài phê bình thơ như "Bàn về con đường tri thức" trong tập thơ Từ Thức của Đoàn Thêm; "Người yêu tôi khóc" của Thế Viên; "Trăng treo đầu súng" của Tường Linh...Ngơài ra, ông cũng phê bình một số công trình khảo cứu như: Thi nhân Việt Nam hiện đại của Phạm Thanh, một cuốn sách quá tồi tệ bởi tính cẩu thả và kém chuyên môn của người biên soạn. Cho nên, theo Vũ Hạnh việc "tiễu trừ thi phẩm nầy là một nhiệm vụ vô cùng cần kíp như sự tiễu trừ phiến loạn" [13]. Còn khi phê bình Lược khảo văn học của Nguyễn Văn Trung (Bách Khoa số 179 /1964), Vũ Hạnh đã chỉ ra những điều mà theo tác giả là ông Nguyễn Văn Trung đã có mâu thuẫn trong tư duy lý luận của mình.

Có thể nói, những bài phê bình của Vũ Hạnh đều thống nhất trên quan điểm đấu tranh chống văn học phi nhân bản, phi dân tộc, đề cao lòng yêu nước, tinh thần tự hào, ý thức trách nhiệm của người cầm bút trước cuộc sống và trước vận mệnh dân tộc. Cảm hứng chủ đạo này đã ám ảnh suốt hành trình sáng tạo của nhà văn, không những ở lĩnh vực lý luận - phê bình mà cả trong lĩnh vực sáng tác. Đây cũng là mặt tích cực thể hiện tính chiến đấu của ngòi bút Vũ Hạnh trong tình hình văn học phức tạp ở đô thị miền Nam. Nhưng từ đây cũng nảy sinh những điểm hạn chế vì có một số vấn đề tác giả còn cực đoan, khi lý giải theo quan điểm tư tưởng chính trị mà chưa chú trọng đến tính khoa học văn chương. Những hạn chế đó là điều tất yếu, nhưng mặt thành công trong các bài phê bình của ông vẫn là mặt cơ bản. Ta hãy nghe Vũ Hạnh tâm sự "Đối với tôi, một cái biến cố quan trọng trong cuộc đời viết lách mười năm qua, là lĩnh vực phê bình. Đó là công việc vừa thú vị lại vừa nguy hiểm, đem lại cho bản thân tôi khá nhiều bạn bè thân thiết và những kẻ thù, cùng vô số những kỉ niệm sâu xa" [14].

3. Dẫu trong quá trình hoạt động văn học cả trong sáng tác lẫn lý luận - phê bình Vũ Hạnh gặp nhiều điều rắc rối và nguy hiểm nhưng ông vẫn không chùn bước. Ngược lại, ngòi bút phê bình của ông ngày càng sắc bén hơn, tính chiến đấu cao hơn. Vì thế, trong phê bình, ông không tránh né bất cứ nhà văn nào, tác phẩm nào, thể loại nào. Khi đánh giá về tác phẩm của một số nhà văn được xem là "có giá" ở đô thị miền Nam lúc bấy giờ như Võ Phiến, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Mạnh Côn, Linh Bảo, Mặc Thu... Vũ Hạnh cho rằng ở những nhà văn này có những tác phẩm nhiều khi "quá thiên về sự đẽo gọt hình thức, không cần cốt truyện, dễ đưa đến sự suy tưởng vớ vẩn, hư không, làm như cuộc đời không có chuyện gì đáng nói nữa" [15]. Cho nên, có thể khẳng định Vũ Hạnh là một trong những gương mặt tiêu biểu không chỉ cho khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng quan điểm Mác Xít mà còn là gương mặt phê bình tiêu biểu của lý luận - phê bình văn học ở miền Nam trước đây cũng như của nền lý luận - phê bình văn học dân tộc hôm nay. Việc đọc lại những tác phẩm lý luận – phê bình văn học của Vũ Hạnh miền Nam trước 1975, thiết nghĩ cũng thức nhận cho chúng ta những điều lý thú và bổ ích trong việc xây dựng nền lý luận – phê bình văn học dân tộc trong thời đại hội nhập và phát triển.

PGS.TS TRẦN HOÀI ANH

Chú Thích
 (1) (2) (3) (4) (5) (6) Vũ Hạnh, Đọc lại Truyện Kiều, Nxb Cảo Thơm, SG, 1966, tr. 30-31, 110, 77, 92, 58, 48
(7) (18) Vũ Hạnh, Tìm hiểu Văn nghệ, Nxb Trí Đăng, SG, 1970, tr.110-111, 113
(9) Cô Phương Thảo, "Đọc Chim quyên xuống đất của Sơn Nam", Bách Khoa thời đại số 153/1963, tr.111
(10) Cô Phương Thảo, "Đọc Sui cô nương của Mặc Đỗ", Bách Khoa thời đại số 56/1959, tr.5
(11) Cô Phương Thảo, " Chu Tử và tác phẩm hiện tượng sách bán chạy của Chu Tử trong năm 1963 có ý nghĩa gì" Tin Văn số 13/1966 tr.10
 (12)Cô Phương Thảo, "Đọc Người viễn khách thứ mười", Bách Khoa thời đạisố 153/1963, tr.60
(13) Nguyên Phủ, " Điểm sách Thi nhân hiện đại của Phạm Thanh", Bách Khoa thời đại số 67/1959, tr.69
(14) Vũ Hạnh, "Mười năm cầm bút", Bách Khoa thời đại số 243/1967, tr.86
(15)Vũ Hạnh, "Hoàn cảnh sáng tác và điều kiện sống hiện thời của văn nghệ sĩ", Bách Khoa thời đại số 120/1962, tr.50



ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

Lê Văn Thảo - Nhà văn mang trái tim và tâm hồn người lính cách mạng

Có thể nói, một trong những địa danh mà anh chúng tôi gắn bó là vùng đất Đồng Tháp Mười, quê hương cha chúng tôi, bên sông Vàm Cỏ Tây. Với anh, Đồng Tháp Mười là kho tàng vô tận về những kỷ niệm, dấu ấn không quên…
Nhà văn Lê Văn Thảo với gia đình người em Lê Văn Duy

Trên mặt trận văn nghệ

Thuở nhỏ anh vào chiến khu Đồng Tháp Mười học trường kháng chiến. Năm 1950, mẹ chúng tôi về Long Xuyên, anh theo học tại Trường Trung học Thoại Ngọc Hầu, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Sau đó, anh lên Sài Gòn học Trường Đại học Khoa học, khoa Toán Lý và ở giai đoạn này anh bắt đầu biểu lộ năng khiếu sáng tác văn thơ của mình.

Năm 1962, anh thoát ly tham gia kháng chiến ngay tại Lò Gò, chiến khu Tây Ninh theo lời nhắn của ba chúng tôi là ông Dương Văn Diêu, cán bộ miền Bắc tập kết trở về. Lúc đó ba chúng tôi là trưởng tiểu ban giáo dục miền Nam, anh Thảo là cán bộ giáo dục. Sau đó anh chuyển sang công tác tại Hội Văn nghệ Giải phóng, viết văn tại B2 thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. Năm 1964, mẹ đưa các em chúng tôi cùng vào chiến khu, tất cả gia đình đều công tác tại Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam.

Đây là khoảng thời gian anh chúng tôi tham gia nhiều chiến dịch lớn ở Đông Nam bộ cùng các sư đoàn chủ lực như Sư đoàn 9, Sư đoàn 7, Sư đoàn 5 và đã có những tác phẩm văn học nổi tiếng mang hơi thở của chiến trường Nam bộ. Một trong các tác phẩm đó là truyện Ông cá hô. Câu chuyện này bắt nguồn ngay tại khúc sông Hậu cạnh nhà anh em chúng tôi. Chuyện chính là về mối tình của một nông dân chân chất với một cô gái. Nhưng thật ra đây cũng là mối tình của chính bản thân anh với sông nước, với quê hương, làng xóm và nói rộng ra là mối tình với đất nước.

Có thể nói, một trong những địa danh mà anh chúng tôi gắn bó là vùng đất Đồng Tháp Mười, quê hương cha chúng tôi, bên sông Vàm Cỏ Tây. Với anh, Đồng Tháp Mười là kho tàng vô tận về những kỷ niệm, dấu ấn không quên. Một trong những tiểu thuyết đầu tay của anh chính là viết về Đồng Tháp Mười và đó cũng là tác phẩm anh yêu thích nhất, tiểu thuyết Một ngày và một đời (giải thưởng Văn học nghệ thuật TPHCM và giải thưởng Văn học Việt Nam). Nhà phê bình, nghiên cứu văn học Hoài Anh ghi nhận về tiểu thuyết Một ngày và một đời như sau: “Có thể nói cuốn Một ngày và một đời của nhà văn Lê Văn Thảo viết về cuộc nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 có nhiều cái mới. Tác giả viết theo trình tự thời gian. Câu chuyện xảy ra được nhìn lại từ ngày hôm nay để đánh giá lại một câu chuyện quá khứ. Hiện lên hình ảnh người đàn ông ích kỷ - viên chỉ huy bạc nhược đối lập với hình ảnh một phụ nữ anh dũng tuyệt vời, hy sinh tất cả trong đời sống cũng như trong đời tư. Mỗi đoạn chuyện được kể bằng từng ngôn ngữ riêng, giọng điệu riêng, thông qua tính cách của từng người, tâm lý từng người”.
Họp mặt giới thiệu sách Nhà văn Lê Văn Thảo trong lòng đồng nghiệp,
do Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức ngày 21.3.2017

Người anh, người bạn của văn chương TPHCM

Anh chúng tôi đã nhiều lần được mời sang Mỹ dự các hội thảo văn học của cựu chiến binh chiến trường Việt Nam. Đối tượng là nhà văn cựu binh Việt Nam và nhà văn cựu binh Mỹ. Cả hai bên đều từng tham gia cuộc chiến tại Việt Nam. Theo các nhà văn Mỹ thì đỉnh điểm cuộc chiến là chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong đoàn nhà văn cựu binh Mỹ có một nhà văn chuyên sưu tầm về chiến dịch Mậu Thân. Anh ấy đã tìm anh chúng tôi để trao đổi thông tin, tài liệu. Sau chuyến thăm, anh chúng tôi càng hiểu rõ hơn sự lớn lao của chiến dịch này.

Một trong những bạn văn, đồng hương, được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học như anh chúng tôi là nhà văn Nguyễn Quang Sáng từng nhận xét: “Cho đến bây giờ Lê Văn Thảo là nhà văn có nhiều vốn sống đầy ắp. Vốn sống về chiến tranh. Tác phẩm Một ngày và một đời là viết về chiến tranh từ trong thời bình. Tất cả những tác phẩm văn học của chúng tôi đều thoát khỏi cơ chế thị trường. Nhưng chúng tôi vẫn đi trên con đường văn học viết về chiến tranh. Từ nay cho đến cuối đời chúng tôi vẫn sẽ viết về một cuốn sách tâm đắc nhất về chiến tranh đã qua”.

Ghi nhận ấy của nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã được anh chúng tôi thực hiện từ lâu với tác phẩm như tiểu thuyết Cơn giông, Sóng nước Vàm Nao… và ngay cả trong những ngày anh chúng tôi bắt đầu mang triệu chứng căn bệnh nan y tiềm ẩn.

Anh chúng tôi luôn sống mẫu mực, khiêm tốn, không bon chen ham mê danh vọng, giàu sang và phú quý mà chỉ chuyên tâm phụ trách tờ báo Văn nghệ Giải phóng và Tuần báo Văn nghệ TPHCM. Anh chúng tôi thích làm công tác hội vì nặng lòng thương mến anh chị em bạn bè đồng nghiệp. Có thể nói, anh chúng tôi có rất đông bạn bè trong cả nước yêu thương và đông đảo độc giả quý mến. Thuở sinh thời, anh chúng tôi đi đến đâu cũng được bạn bè những nơi đó đón tiếp chu đáo và nồng nhiệt.

Từ lúc ba má chúng tôi qua đời thì anh nhận vai trò là con trai trưởng chăm lo, yêu thương các em và con cháu trong gia đình. Trong khoảng thời gian cuối đời, giữa những cơn đau thắt ngặt, anh chúng tôi vẫn vui vẻ kể lại những giai thoại đời văn và những hồi ức khao khát viết về những ký ức một thời chiến đấu chưa xa với bạn bè đồng nghiệp và anh em chúng tôi mà không một chút bi quan.

Anh chúng tôi là một người dũng cảm mang trái tim và tâm hồn người lính cách mạng. Anh chúng tôi đã mang nụ cười về nơi chín suối.

 LÊ VĂN DUY
Theo NVTPHCM



Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

Chiến khu Đ - một thời lừng lẫy tướng quân Huỳnh Văn Nghệ

Tôi đặt đầu đề bài viết nhỏ này theo cách gọi dân gian - tướng Nghệ - chớ thật ra ông chưa hề được Nhà nước ta phong tướng. Vào đầu những năm 60 thế kỷ trước, khi chuyển ngành ra làm tổng cục phó Tổng cục Lâm nghiệp, cấp hàm cao nhất của ông lúc ấy vẫn chỉ là thượng tá.
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ

Bây giờ, nhắc đến ông, người đời thích gọi ông là nhà thơ - chiến sĩ. Tôi chợt nhớ, khi tập thơ Huỳnh Văn Nghệ lần đầu tiên được in ra trên đất Bắc, tờ báo của Hội Nhà văn Việt Nam có bài giới thiệu ông là nhà thơ trẻ. Ông cười và bảo tôi: "Làm thơ từ những năm 30, chưa già thì chớ, trẻ nổi gì!". Đúng là vậy! Những bài thơ như Đám ma nghèo,  Bà bán cau... được ông viết ra từ những năm 1935- 37. Còn thực sự đặt chân vào lĩnh vực quân sự, là chỉ huy quân sự địa phương thì mãi gần cuối 1945 sau khi cuộc kháng chiến Nam Bộ nổ ra, ông mới mang danh chiến sĩ.

Khi Pháp tái chiếm Sài Gòn, trước khi về lại Tân Uyên theo gợi ý của ông Sáu Giàu (Trần Văn Giàu)- chủ tịch lâm uỷ Nam Bộ, ông là uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến miền Đông. Mấy hôm trước khi quân Pháp núp sau quân Anh - Ấn lên Biên Hoà, Huỳnh Văn Nghệ không chạy theo Lương Văn Tương- chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Đông lên Xuân Lộc rồi ra Phan Thiết, mà đi ngược về phía quê ông, lập chiến khu ở đó.

Chiến khu Tân Uyên, đến giữa năm 1946 gọi là chiến khu Đ, gắn liền với tên tuổi Huỳnh Văn Nghệ từ tháng 10.1945. Tháng 11 năm ấy, tướng Nguyễn Bình gặp ông, trao ông chức chỉ huy trưởng quân giải phóng Biên Hoà. Và tháng 12, tướng Bình cũng về chiến khu này  đặt Tổng hành dinh khu 7 tại Lạc An.

Tôi giáp mặt tướng Nghệ lần đầu tiên vào khoảng giữa tháng 11.1945. Lúc ấy, tôi vừa tốt nghiệp khoá huấn luyện cuối cùng của Trường quân chính Tân Uyên (từ Sở Tiêu- Đất Cuốc trường đã chuyển ra Mỹ Lộc) và được nhà trường giới thiệu đến gặp ông để được phân công công tác.

Tôi chỉ thực sự gần gũi ông từ tháng 4.1946 khi được rút về văn phòng Vệ quốc đoàn Biên Hoà, làm thư ký riêng cho ông.

Lúc này mới ngoài 30 tuổi, Tám Nghệ (sanh năm 1914) không chỉ đảm nhiệm chức vụ chỉ huy trưởng quân sự, ông còn là phó chủ tịch kiêm uỷ viên quân sự uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Biên Hoà. Thời cơ ấy cũng là thuận lợi để ông tổ chức các quận quân sự, thực chất là các cụm quân sự liên xã. Vào thời điểm ấy, sau khi thành lập các chi khu Tân Uyên, Cây Đào... giặc Pháp bắt đầu đánh nống ra, mở rộng lấn chiếm, thực hiện bao vây và chia cắt ta. Nhờ tổ chức quận quân sự, việc chỉ đạo xuống xã vẫn thông suốt. Các hoạt động quân sự ở cơ sở vẫn được duy trì. Tổ chức du kích vẫn giữ vững và lực lượng ngày càng phát triển.

Tháng 6.1946 Vệ quốc đoàn Biên Hoà  mang phiên hiệu Chi đội 10. Chỉ trong vòng nửa năm, tất cả các lực lượng vũ trang trong tỉnh đã được quy về một mối. Huỳnh Văn Nghệ có thêm Nguyễn Văn Lung, chi đội phó mới, từ Long Thành về. Rồi Phan Đình Công, từ Phòng chính trị khu 7 xuống, với chức danh Chính trị viên Chi đội. Đến tháng 8.1946, các cơ quan tham mưu - chính trị của chi đội hình thành.

Là thủ lĩnh quân sự địa phương, do "thế thời phải thế", Huỳnh Văn Nghệ không hề  được đào tạo qua một trường quân sự nào. Ông học kinh nghiệm từ tướng Nguyễn Bình, nguyên tư lệnh Đệ tứ chiến khu Đông Triều thời kỳ tiền khởi nghĩa. Ông tự học qua các tài liệu chẳng hiểu ông moi từ đâu ra và đưa tôi đánh máy. Những Binh Pháp Tôn tử, Kinh ngoạn du kích Tàu, Cách huấn luyện cán bộ quân sự. Ông học ngay từ thực tiễn chiến trường. Khi Chi khu Cây Đào cho đóng bót Võ Sa (nay là xã Lợi Hoà huyện Vĩnh Cửu), ông đã cử Ba Trợn, Tư Bạch (trong chống Mỹ đổi tên là Năm Hồng) và một số chiến sĩ  trá hàng, đến khi có thời cơ thì bót Võ Sa nổi dậy phản chiến, thu hết súng ống đạn dược và kéo hết quân ra, trở về với kháng chiến. Đòn "lấy gậy ông đập lưng ông" này làm rúng động hàng ngũ thân binh Pháp. Giặc Pháp cũng nghi ngờ, dè dặt trong việc tuyển mộ thân binh. Ta thu hút thêm nhiều thanh niên trở thành  tân binh vệ quốc đoàn.

Tháng 5.1946, giặc Pháp mở cuộc tiến công lớn lần thứ 2 vào Tổng hành dinh tướng Nguyễn Bình. Sau trận càn này, khu bộ khu 7 chuyển về Giòng Dinh (Đồng Tháp Mười). Khu vực đóng Tổng hành dinh cũ của tướng Nguyễn Bình với các mật danh khu A, B, C không còn. Từ đây, Chiến khu Đ (mật danh khu đóng quân chi đội 10) được gọi thay cho Chiến khu Tân Uyên.

Chi đội 10 không chỉ nổi tiếng chống càn đánh phục kích, tập kích giỏi còn lừng danh với các trận đánh giao thông đường bộ và đường sắt khá xuất sắc. Quy mô tác chiến ngày một lớn. Binh lược phân tán, tập trung linh hoạt. Bộ đội tập trung và du kích địa phương đều lớn mạnh. Sau trận La Ngà nổi tiếng, Chi đội có bước trưởng thành mới- Trung đoàn 310 ra đời.

So với các trung đoàn của miền Đông, Trung đoàn 310 là một trung đoàn mạnh. Khu bộ trưởng khu 7 Nguyễn Bình rút Huỳnh Văn Nghệ lên làm khu bộ phó. Và giao cho ông xuống liên khu Bình Xuyên kéo Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) cùng về khu nhận nhiệm vụ mới. Tám Nghệ đơn phương độc mã vào chiến khu Rừng Sác và đã làm tròn nhiệm vụ tướng Bình giao phó.

Năm 1951, giải thể 3 khu 7, 8, 9, Tám Nghệ và Tô Ký về làm phó cho tướng Trà- tư lệnh Phân liên khu miền Đông. Ít lâu sau, Tám Nghệ về làm tỉnh đội trưởng Thủ Biên, Tô Ký về Gia Ninh. Sau trận lụt 1952, ông đi dự chỉnh Đảng ở Liên khu 5 rồi ra Bắc.

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, ông về Bộ Tổng tham mưu với chức vụ cục phó Cục Quân huấn - trưởng Phòng Thể dục thể thao quân đội. Dưới thời ông, các đội bắn súng, bóng đá, bóng chuyền thể công tiếng tăm lừng lẫy. Sự kiện thể thao lớn nhất là cuộc thi đấu bóng đá giữa 14 quân đội các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa.

Tôi đã không còn gặp ông khi ông chuyển ngành ra Tổng cục Lâm nghiệp. Rồi loáng thoáng nghe trước Tết Mậu Thân ông đã đi B. Và cho tới khi ông mất (năm 1977) khi ấy tôi đang còn ở Hà Nội.

***

Cuộc đời quân ngũ gần 40 năm của tôi cho đến lúc chuyển ngành về lại Đồng Nai, tôi đã qua nhiều đơn vị, đã là cán bộ thuộc hạ của nhiều thủ trưởng. Các cấp trên của tôi mỗi người một vẻ, một tính cách. Tuy nhiên, sâu đậm trong tôi vẫn là hình ảnh của ông Tám Nghệ, người thủ trưởng quân sự đầu tiên đã ảnh hưởng rất tốt đối với tôi.

Từ ngày về lại Đồng Nai, hàng năm sau Tết - ngày 16 tháng giêng - là ngày giỗ ông Tám, năm nào tôi cũng về Tân Tịch. Ông mất đến nay đã gần 30 năm. Nhưng giỗ hội hàng năm, bạn bè anh em đồng chí cũ vẫn nườm nượp kéo về. Khu mộ gia đình ông gom lại, tập trung trên một khoảnh đất rộng. Và nhà tưởng niệm Huỳnh Văn Nghệ  từ năm 2005 đã được nâng lên thành đền thờ. Tên ông còn được đặt cho một trường tiểu học ở Tân Uyên, một đường phố của thị xã Thủ Dầu Một.

Ông xứng đáng được tôn vinh như một danh nhân tiêu biểu của địa phương, của tỉnh Biên Hoà cũ, trong kháng chiến chống Pháp nhiều người gọi ông là tướng Nghệ. Và như nhân dân Tân Uyên quê ông đã làm thơ nhớ ông:

"Anh đã mất nhưng nào đã mất
Hình bóng anh còn đọng mãi trong dân...".

Biên Hoà 2006
HOÀNG KIM CHUNG
(Nguyên chiến sĩ Chi đội 10)

Nguồn: ĐNO


ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Thứ Năm, 13 tháng 9, 2018

Nhà văn Trang Thế Hy: Người “đi chỗ khác chơi”


Tháng 10.1992 sau khi nhận sổ hưu từ cơ quan Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, với tuyên bố: “Tôi sẽ rời thành phố để đi chỗ khác chơi vì đã hoàn thành nhiệm vụ”, nhà văn Trang Thế Hy đã tạo ra một làn sóng dư luận khá sôi nổi, không chỉ trong lòng người hoạt động văn học nghệ thuật, mà cả trong dư luận chung rộng rãi.
Nhà văn Trang Thế Hy

Trong khi hàng vạn, hàng triệu người đang ngày đêm tìm mọi cách, mọi cơ hội để có mặt tại thành phố, dù là đang trẻ tuổi hăng máu hay đang kiệt sức nghỉ hưu, thì ông, một người thành phố lại tuyên bố sẽ rời thành phố về quê vui thú an nhàn ở tuổi gần 70. Có lẽ nào ông là người nghĩ khác?

Thật ra chuyện đi hay ở với nhà văn không phải là chuyện quan trọng. Vốn là người sinh ra từ vùng ngoại vi thị xã Bến Tre trong những tháng năm dài nô lệ, khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông đã là chàng trai 21 tuổi. Ông tích cực tham gia mọi sinh hoạt của tổ chức đoàn thể tại địa phương. Với vốn sở học của mình, lý ra ông đã trở thành ông này ông nọ trong hàng ngũ cách mạng, nhưng không, ông vẫn là ông, con người điềm đạm nho nhã với cung cách đằm thắm, ngay cả trong lời ăn nết ở.

Gần 50 năm tham gia hoạt động cách mạng, chàng thanh niên đã rời làng quê huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre ngày nào trong sục sôi đấu tranh nay trở lại quê nhà với cuộc sống thật dịu êm bên dưới rặng dừa trong ngôi vườn không nhiều cây trái, ngày ngày uống trà, đọc sách, đàm đạo văn chương với bạn văn xa gần mỗi lần ghé lại hoặc chuyện trò thời sự cùng những người đồng hương già trẻ. Cuộc sống dường như trôi đi rất chậm trong ngôi nhà ấy, đôi khi tưởng như rất buồn tẻ, nhưng không, nó vẫn ăm ắp nỗi đau thế sự xoay vần, vẫn đau đáu niềm lo về người này kẻ kia trong làng văn trận bút.

Tôi được biết về ông khá trễ, có lẽ là trễ nhất trong số những người cùng chung cơ quan Hội Nhà văn thành phố. Trước đó khoảng gần chục năm, tôi cũng biết sơ về ông, không phải bằng con người thật, mà bằng văn chương, với những truyện ngắn như được trau chuốt từng chữ đăng trên báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh - nơi coi như địa chỉ tập hợp anh hào sau một thời ly loạn của thành phố.

Ở đó có Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Phạm Tường Hạnh, Mai Văn Tạo, Chim Trắng, Lê Văn Thảo, Nguyễn Chí Hiếu, Hoài Anh, Trần Nhật Thu, Lê Dụng và nhiều người khác nữa. Họ là những người ở rừng về, từ Bắc vô, đang tạo ra một chân dung văn nghệ thành phố mới giải phóng với nhiều hình ảnh sống động, tuy còn nhiều khó khăn nhưng sinh động và tươi mới.

Mang tiếng là người của báo, nhưng ông viết không nhiều, lâu lắm mới thấy xuất hiện một truyện ngắn, có truyện đăng tới hai, ba kỳ báo, nhưng nhiều người không gọi ông là nhà văn Trang Thế Hy, mà họ thường gọi là anh Tư Sâm, hay như chúng tôi hay gọi là chú Tư. Chú Tư có cách nói, điệu cười, dáng đi, kiểu đứng không có gì khác người, nhưng vẫn có cái gì đó thực sự nho nhã, nền nếp, khác biệt với những người khác. Sự khác biệt ấy không làm cho ông cách xa đám đông, tách biệt tập thể mà như một nốt luyến trong âm nhạc, nó làm giàu có đời sống vốn nhiều thanh điệu thường bủa vây chung quanh.

Bằng cách nói rõ ràng, mạch lạc, chậm rãi, không thừa ít thiếu, nhà văn có cuộc sống đơn chiếc trong khu tập thể 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa tưởng như rất buồn. Nhưng không phải thế. Phòng ông, chỗ ông luôn luôn ngăn nắp, đầy ắp tiếng cười, giọng nói trong những buổi rượu trà với người đồng điệu. Căn phòng nhỏ, có cửa sổ nhìn ra con đường vào thành phố ngập tràn tiếng xe dù lúc khó khăn chật vật thiếu thốn mọi bề vẫn là nơi lui tới đi về của ông - một người mài chữ ra truyện.

Không biết ông chuyển biên chế về Hội Nhà văn lúc nào mà khi tôi chuyển ngành về Hội Nhà văn đã thấy tên ông trong danh sách những cán bộ thuộc cơ quan cùng với Sơn Nam, Mai Văn Tạo, Trần Thanh Giao, Thanh Giang, Lê Giang, Trần Mạnh Hảo.

Tôi chỉ nghe về ông qua những người đã từng sống cùng ông trong những năm tháng ở rừng như Nguyễn Quang Sáng, Diệp Minh Tuyền, Chim Trắng, Lê Văn Thảo - những người luôn luôn gọi tên ông bằng cái tên Anh Tư rất đỗi thân thương và trìu mến. Nào là đi công tác với Anh Tư là khỏi lo bị đói, khỏi sợ thiếu cái ăn, đôi khi được ăn sang và ăn ngon nữa, vì anh Tư là người chịu khó chế biến các món nhậu ở rừng thuộc hàng bá cháy, và đặc biệt là anh Tư có tài săn thú rất hay.

Tài săn thú thì tôi chưa chứng kiến, nhưng tài chế biến món ăn của anh Tư thì tôi cũng vinh dự được đôi lần tham gia nhân dịp anh tiếp một vài ông bạn văn chương trên đường hành phương Nam ghé thăm anh với rất nhiều tình cảm. Những món ăn ở nhà một người đàn ông đơn chiếc thường không nhiều nhặn gì nhưng được chế biến bởi một người sành ăn nên rất đậm đà và thi vị.

Điểm đặc biệt nổi bật nhất trong bữa ăn ở nhà anh Tư Sâm là rượu. Rượu được anh Tư tinh tuyển từ những chuyến đi thực tế, từ những món quà bằng hữu tâm giao nên không lẫn vào đâu được. Trong những năm tháng khó khăn chung, anh Tư vẫn ung dung trà rượu với bằng hữu bằng những sưu tập của mình, quả là một chuyện kỳ công.

Những ngày còn ở thành phố hay hơn 20 năm nay “đi chỗ khác chơi” ở quê xứ Bến Tre, anh Tư vẫn chăm chú đọc và đọc thật nhiều những cây bút trẻ. Quả là không xa lạ khi người viết đồng bằng sông Cửu Long luôn xem ông như ông thầy, một bậc đàn anh đáng kính. Mỗi lần có dịp đi lên khu vực miền Trung Nam Bộ là hầu như ai cũng sắp xếp một chuyến gặp gỡ với nhà văn Trang Thế Hy tại ngôi nhà nhỏ ngoại vi thị xã Bến Tre của ông.

Những Ngô Khắc Tài, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Trung Khâu, Trịnh Bửu Hoài và nhiều người khác nữa luôn xem ngôi nhà nhỏ ở ngoại vi tỉnh lỵ Bến Tre là một nơi chốn thân thương. Bởi ở đó họ được tiếp đón không phải bằng tình cảm của người trên kẻ trước, mà bằng tình cảm nồng ấm ruột thịt như cha con ông cháu một nhà. Sự gần gũi, thân thiết của ông là sự gần gũi thân tình rất mực, không kẻ cả, khoa trương, không lão làng văn giới.

Có thể nói trong gần 70 năm cầm bút sáng tác của mình, dù khởi sự bằng thơ, tiếp đến là dịch thuật, sau này được biết đến như một nhà văn với nhiều bút danh khác nhau như Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Vũ Ái, Văn Minh Phẩm và Trang Thế Hy, nhưng số lượng tác phẩm xuất bản của ông không nhiều.

Có thể kể đến như Nắng đẹp miền quê ngoại (1964), Mưa ấm (1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ Mười ba (1989), Tiếng khóc và tiếng hát (1993), Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2001) và tập thơ Đắng và ngọt (2009). Năm 2011, khi Nhà xuất bản Trẻ tái bản và đưa tập truyện ngắn Vết thương thứ Mười ba vào trong tủ sách Mỗi tác giả Một tác phẩm, tôi đã có dịp chứng kiến sức làm việc không biết mệt mỏi của ông.

Ông đã ngồi lại chỉnh sửa từng trang bản thảo, bỏ chữ này thêm chữ kia vào từng trang sách, vào từng truyện ngắn với mong mỏi là bạn đọc được tiếp nhận một văn bản có trách nhiệm của nhà văn - một công việc mà tôi thấy những nhà văn lớn tuổi thế hệ trước hay làm như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và nay là Trang Thế Hy.

Trong nhiều lần trò chuyện với nhà văn, điều tôi nhận ra ở ông là tấm lòng của người ăn quả nhớ người trồng cây, là tấm lòng với người nông dân Việt. Ông thường nói chúng ta lớn lên từ nông dân, nông thôn, rồi lại xem nông dân là bạn, nhưng đối xử với người nông dân chưa bao giờ là bạn cả. Hạt gạo, con tôm, con cá do người nông dân một nắng hai sương làm ra đã làm giàu cho biết bao nhiêu người buôn bán (cả bán hàng hoá lẫn bán chức quyền), cho nhà nước nhưng bù lại người nông dân được gì. Họ vẫn sống trong những điều kiện thấp kém nhất và luôn luôn được đối xử như những người... hèn kém nhất.

Tôi nhớ khi ký tên giới thiệu tôi vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhà văn Trang Thế Hy còn chú thích thêm bên cạnh bút danh của mình là nhà thơ Phạm Võ. Hỏi ông vì sao lại đưa tên Phạm Võ vào đây thì ông nói nếu không người ta sẽ nói là hai thằng cha làm văn đi giới thiệu một tay nhà thơ vào Hội thì kỳ lắm.

Thì ra là vậy. Ông cẩn trọng và kỹ lưỡng trong từng hành động, lời nói và ngay cả việc làm. Bởi theo ông điều còn lại của nhà văn là tác phẩm, mà cái còn lại của tác phẩm là gì nếu không là ngôn ngữ. Chính ngôn ngữ quyết định tác phẩm đó có sống được với thời gian, với bạn đọc hay không. Bất chợt tôi nhớ đến bài thơ Bứt đứt sợi chỉ hồng trong tập thơ Đắng và ngọt của ông. Bài thơ như ông từng mở ngoặc là lời một người con gái có người yêu là nhà thơ. Bài thơ như sau:

Hồi mình mới yêu nhau, cây kéo kiểm duyệt tạm trú trong đầu anh như khách không mời mà đến
Chỉ thỉnh thoảng nó mới e dè cắt bỏ một vài bông hoa tư duy nhỏ nở ra trên trang viết của anh
Nó ái ngại thấy anh ứa lệ nhìn những giọt nhựa tươi ứa ra từ những cánh hoa được cắt xén
Từ ái ngại nó chuyển qua thương anh rồi tội nghiệp anh như một nhà thơ nhát gan
Bây giờ cây kéo kiểm duyệt không phải là khách, nó có hộ khẩu thường trú trong trái tim anh
Trước sự dửng dưng vô cảm của anh, nó cắt xén không thương tiếc những bông hoa cảm nghĩ của anh, kể cả những búp chưa kịp nở
Nó lạnh lùng nhưng đôi khi cũng nói. Nó không nói anh nhát gan, nó nói anh hèn...

Một bài thơ nói nhiều điều về sự sáng tạo, về thói quen và nhiều thứ khác mà chúng ta cứ vô tình cho nó tự tiêm nhiễm, tự đầu độc mình trong quá trình sống với con người. Một sự cảnh tỉnh về thói quen trong nếp nghĩ suy phần nào khá đơn giản của nhiều người trong xã hội chúng ta.

TP Hồ Chí Minh, Tháng 6.2013
PHẠM SỸ SÁU

 ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:





BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...