Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Trầm Hương kiếm tiền tỉ từ máu và nước mắt

Kiếm được tiền tỉ, người đàn bà tài năng, đa cảm và đa đoan phải đánh đổi bằng bao đêm thức trắng, nhỏ nước mắt và cả máu lên trang viết. “Một tay bọc trái tim đau, tay kia lau nước mắt, tay bồng con, tay viết sách trải lòng…” - thơ chị cũng chính là đời chị, nghề chị.

Hơn 30 năm viết như phát rồ để cho ra gia tài văn chương đồ sộ mà nhà văn Trầm Hương vẫn còn ước sao trời đừng có đêm để chị không phải... đi ngủ, để có thêm thời gian viết: “Tôi thực tế, thậm chí thực dụng lắm, viết cái gì ra tiền là tôi viết liền”.

Hiện nay ở cái tuổi sắp nghỉ hưu, tác giả của Đêm trắng Đức Giáo Tông, Đêm Sài Gòn không ngủ... vẫn “cày chữ” cật lực gửi 20.000 USD mỗi năm cho con gái đang du học ở Mỹ và chuẩn bị cho con trai cũng sắp du học vào cuối năm nay.
Nhà văn Trầm Hương (phải) và con gái Kỳ Nam

Kiếm 20 lượng vàng từ Người đẹp Tây Đô

Phim Người đẹp Tây Đô thành công, cặp đôi vai diễn Bạch Cúc - Bạch Vân đưa tên tuổi hai diễn viên Việt Trinh và Hồng Ánh nổi đình nổi đám. Ít người biết trước thành công đó, vào đầu những năm 1990, nhà văn Trầm Hương - mẹ đẻ của Người đẹp Tây Đô đã có gần hai năm nung mình trong cái nóng hầm hập của căn gác mái tôn thuê ở Vũng Tàu, cặm cụi và đơn độc viết để cho ra đời cuốn tiểu thuyết lấy cảm hứng từ cuộc đời bà Lâm Thị Phấn. Tiểu thuyết Người đẹp Tây Đô sau đó được đăng dài kỳ trên báo Tuổi Trẻ, trả chị được tổng cộng 20 triệu đồng nhuận bút. Rồi hãng phim TFS đặt hàng chị chuyển thể tiểu thuyết thành 16 tập kịch bản phim, trả chị 5 triệu đồng/tập.

Thời điểm đó, nhà văn Trầm Hương nhớ lại, vàng bán 500.000 đồng/chỉ. Với hơn 100 triệu đồng kiếm được từ Người đẹp Tây Đô, thay vì mua 20 lượng vàng, nhà văn Trầm Hương quyết thoát kiếp ở nhà thuê, mua căn hộ chung cư ở khu Bàu Cát, Tân Bình giá 55 triệu đồng. Số còn lại, chị gửi bạn chơi chứng khoán. May sao bạn chị chơi chứng khoán có lời.

Đến bây giờ nhà văn Trầm Hương vẫn coi 100 triệu đồng từ Người đẹp Tây Đôlà khoản tiền kiếm được đáng nhớ nhất trong cuộc đời cầm bút của chị. Chị bảo không thể nào quên cảm giác vui sướng đứng trong căn nhà mới, với ý thức mình hoàn toàn có thể sống yên ổn bằng những con chữ cần cù, chắt chiu của mình.

Mua đất, đổi nhà gần chục tỉ

Có được nhà riêng, nhà văn Trầm Hương vẫn viết không ngưng nghỉ. Không chỉ viết văn, làm thơ, Trầm Hương còn viết sử, viết hồi ký, viết kịch bản phim, làm truyền thông, thuyết minh bảo tàng… Luôn luôn, trong một lúc chị phải làm nhiều việc, việc này hỗ trợ việc kia.

Năm 2001, nhà văn Trầm Hương bán căn chung cư ở Bàu Cát, dồn thêm tiền mua nhà ở đường Lê Đức Thọ, Gò Vấp. Căn nhà này lúc đó rất đắt, hơn 100 cây vàng, được cái rộng, đẹp như lâu đài. Ở đến năm 2012, thấy các con đi học xa, chị chuyển nhà về đường Cô Giang, Phú Nhuận đến nay. Nhà hiện nay diện tích chỉ bằng 1/3 căn nhà ở Gò Vấp nhưng giá lại đắt hơn gấp ba lần. Chỉ riêng tiền đất chị mua đã mất 3,7 tỉ đồng, xây hơn 2 tỉ đồng.

Hiện nay theo người dân khu vực này, căn nhà đẹp hai tầng lầu của nhà văn Trầm Hương có giá khoảng 8 tỉ đồng.

Gõ chữ bằng mười đầu ngón tay tứa máu

Nhà văn Trầm Hương thích câu thơ của Trương Kim Dung: Không thành đạt cũng không sao/ Miễn đừng làm người độc ác. Mà độc ác với chị là làm mẹ mà không chu toàn được trách nhiệm một người mẹ. Người đàn bà chưa bao giờ vô dụng đã yêu điên cuồng và cũng chịu trách nhiệm đến điên cuồng. Làm một người mẹ đơn thân của hai đứa con, chị có những ngày tháng “mài chữ ra để kiếm tiền nuôi con một mình, rồi cũng mang chữ đi đổi sữa nuôi con”, như cách nói của chị.

Sau khi sinh con gái Kỳ Nam 20 ngày, chị đã phải ngồi vào máy chữ gõ thâu đêm để kiếm tiền mua sữa cho con. Chị kể: “Chiếc máy chữ cũ kỹ, khô dầu, cọc cạch. Tôi ngồi gõ mà nước mắt trộn lẫn mồ hôi làm mắt tôi cay xè. Tôi đưa tay vuốt mặt, giật mình nhận ra mặt mình đầy máu. Nhìn xuống, tôi thấy mười ngón tay mình tứa máu. Lúc đó tôi mới chợt nhớ ra lời khuyên của người lớn, sinh con còn non ngày tháng rất kỵ đánh máy chữ, bởi những đầu dây thần kinh lúc đó rất mong manh, sẽ ảnh hưởng tim”.

Nhà văn Trầm Hương chia sẻ, lương ở cơ quan Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ đủ để chị tằn tiện nuôi sống được cả nhà trong mười bữa, nửa tháng. Nửa tháng còn lại chị phải cật lực viết để vừa nuôi sống vừa tích lũy cho con. Chi phí cho chuyện học hành của hai con ngày càng ngốn của chị số tiền mà chị nói là “vô thiên lủng”. Tính riêng chuyện cho hai con học tiếng Anh từ nhỏ, tổng cộng các khóa học rồi thi SAT, thi TOEFL tốn đến vài trăm triệu đồng. Chị bảo: “Khổ nỗi các con mình nhà nghèo mà toàn mê học những môn mắc tiền. Con mê nhạc, có năng khiếu âm nhạc, nỡ nào mình không cho con học. Tôi mời thầy về nhà dạy nhạc cho con, một giờ tốn từ 600.000 đến 1 triệu đồng”.

Nuôi hai con du học Mỹ

Nhà văn Trầm Hương nuôi dạy con với mong muốn sao cho các con trở thành những “công dân toàn cầu”. Hai con chị đều có năng khiếu nghệ thuật và học rất giỏi. Con gái Kỳ Nam học khoa piano Nhạc viện TP.HCM, giành được học bổng trường nhạc ở Mỹ. Dù em được học bổng nhưng chi phí ăn ở, sinh hoạt vẫn phải tự túc. Và dĩ nhiên khoản tự túc này lại chất gánh nặng lên người mẹ ở quê nhà. Kỳ Nam đang học năm thứ hai ở Mỹ. Dù em luôn tiết kiệm hết mức, “thèm một cục kẹo cũng không dám ăn” như lời em chia sẻ với mẹ và đi làm thêm thì mỗi năm nhà văn Trầm Hương vẫn phải gửi sang cho con gái 20.000 USD.

Con trai Đức Nam của chị đang học lớp 12 Trường chuyên Trần Đại Nghĩa, cũng đang chọn trường du học vào cuối năm nay. Nỗi lo khoản tiền chục ngàn đô lại tăng lên. Tất cả đều trông cậy vào ngòi bút của chị.

Lâu nay, viết lời bình cho phim, viết kịch bản phim tài liệu cũng đem lại cho chị nguồn thu đáng kể. Viết lời bình cho phim, chị được thù lao 3,5 triệu đồng/tập. Vừa rồi chị viết… 100 tập kịch bản phim tài liệu Huyền thoại những bà mẹ Việt Nam anh hùng. Với thù lao 5 triệu đồng cho mỗi tập, chị bỏ túi gọn gàng nửa tỉ đồng.

Trầm Hương tự trào, chẳng biết thể trạng mình “làm bằng cái chất gì” mà nhiều hôm chị thức trắng vẫn tỉnh queo: “Cũng may tôi không lấy được ông chồng nào, chứ đàn ông nào chịu được bà vợ thức như con ma”. Sáng ngày chị tỉnh táo, đi làm bình thường. Tuy vậy, chị vẫn chú ý giữ gìn sức khỏe bằng cách tập thể dục đều đặn, chơi cầu lông, tập yoga…

Bởi còn sức là chị còn viết, còn viết là còn kiếm tiền trong hành trình làm mẹ, làm nhà văn không mệt mỏi.

“Nấu bữa cơm, mẹ mất 2 triệu đồng”

Nhà văn Trầm Hương cho rằng như sự bù đắp của ông trời, chị chưa bao giờ phải rầy la các con phải thế này thế kia, mà ngay từ tấm bé, cứ chị bảo em, hai con chị đều rất ngoan, tự giác học hành chăm chỉ. “Có lẽ do các con nhìn vào cách tôi làm việc. Chúng tự hiểu tôi phải gõ gõ, viết viết liên tục thì mới nuôi sống được cả gia đình, còn trách nhiệm của chúng là ngoan ngoãn, học thật giỏi”.

Thời gian viết đối với chị đúng thật là vàng là bạc. Chị nhớ có lần nhà cúp điện, chị ngưng viết, ngồi chơi với các con. Con gái chị đột nhiên kêu lên hốt hoảng: “Trời ơi, sao mẹ không viết. Mẹ không chịu viết thì nhà mình sống làm sao!”. Cho nên chị cười, bảo ba mẹ con chị từ đó ngầm hiểu với nhau, lúc sung sướng nhất là lúc nhà... cúp điện.

Nhà văn Trầm Hương được mẹ dạy nấu nướng, làm bánh, may vá, cấy mạ, cắt lúa, bó lá dừa… tháo vát từ nhỏ. Chị vì vậy nấu ăn rất ngon và thích nấu ăn cho các con. Có lần hai con chị vòi vĩnh được mẹ nấu cho ăn, thay vì dì Hai - người giúp việc. Chị nói với các con: “Dì Hai nấu cho tụi con ăn thì bữa cơm mất 200.000, còn mẹ nấu thì mất 2 triệu đồng. Bởi vì hai tiếng đồng hồ mẹ bỏ ra nấu ăn, mẹ có thể viết được một bài báo nhuận bút 2 triệu”. Từ đó hai con chị không dám bảo thích mẹ nấu cơm nữa.

HỒNG THU
Nguồn: PLTPHCM


ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:




Nghĩ về một người mê chữ: Lê Minh Quốc

Quen biết Lê Minh Quốc đã lâu, vậy mà có điều tôi vẫn hiểu chưa kỹ về anh. Cứ tưởng Lê Minh Quốc bắt đầu làm thơ từ những năm cầm súng chiến đấu ở chiến trường Campuchia (1977-1983), và sau đó tiêp tục say mê sáng tác lúc ngồi trên giảng đường của khoa Văn ĐHTH TP.HCM, để rồi tập thơ Trong cõi chiêm bao đầu tay của anh ra mắt bạn đọc năm 1989. Hoá ra không phải.
 Nhà thơ Lê Minh Quốc

Lê Minh Quốc mê chữ, yêu văn và bước vào cuộc đời cầm bút từ rất sớm. 14 tuổi, sau nhiều “tác phẩm” gửi đi cho các báo ở Sài Gòn lúc đó, nhưng đều rơi vào im lặng, bài thơ Em tôi - tác phẩm đầu tiên của thiếu niên thi sĩ Lê Minh Quốc được in trên báo Thiếu Nhisố 89 (13.5.1973). Tờ báo này do ông chủ nhà sách Khai Trí lập ra và do nhà văn Nhật Tiến làm chủ bút. Khỏi phải nói niềm vui tột độ của cây bút trẻ này khi cầm số báo có đăng thơ của mình. Anh tiếp tục xuất hiện trên các tờ tuần báo dành cho thiếu nhi lúc đó như Tuổi Hoa, Mây Hồng và một số nhật báo khác. Sau này nhà thơ có tâm sự “Dù có thơ in nhưng tôi cũng không hề được toà soạn gửi tặng báo biếu hoặc nhuận bút gì sất!”. Nhà thơ tương lai ấy đã tự an ủi theo đúng phép “thắng lợi tinh thần”: “Chả cần, mình phục vụ cho văn học nghệ thuật (!) thì cần quái gì ba cái chuyện lẻ tẻ ấy”.

Con đường thơ văn của Lê Minh Quốc nếu tính từ những ngày niên thiếu đó thì đến nay đã 40 năm có lẻ. Nhìn lại hệ thống danh mục tác phẩm của anh, dù ai là người trong nghề cũng phải nể: 10 tập thơ, 10 tập truyện, nhiều tập khảo cứu biên soạn… Ấy là chưa kể hàng nghìn bài báo được đăng trên Phụ Nữ TPHCM - nơi anh công tác hơn 20 năm nay, và trên rất nhiều báo khác trong cả nước. Gần đây anh chuyển hướng sang thể loại mới: tạp bút. Tác phẩm Ngày sống đời thơ mà bạn đọc đang có trong tay là đứa con tinh thần mới nhất của anh. Như thế, nếu tạm sơ kết (chứ chưa thể tổng kết, vì chắc chắn tuổi nghề của Lê Minh Quốc còn rất dài), cây bút này đã đều đặn cho công bố với tốc độ tên lửa “năm một, ba năm đôi”. Sức viết ấy đâu dễ có!

Nhưng trong văn chương điều quan trọng nhất chưa phải là số lượng mà là chất lượng. Hi vọng sẽ có dịp được viết kỹ về thơ và truyện của Lê Minh Quốc - hai lĩnh vực ấy anh cũng có chỗ đứng chắc chắn. Trong bài viết ngắn này, xin được nói riêng về tập Ngày sống đời thơ.

Cũng như tác phẩm Ngày trong nếp ngày, Ngày viết mỗi ngày mới trình làng hồi cuối tháng ba năm nay, tập Ngày sống đời thơ trích đăng những trang nhật ký của Lê Minh Quốc. Tập trước anh tuyển chọn trong nhật ký của năm 2013, 2014, tập mới này là những dòng tâm sự của anh trong năm 2015. Lê Minh Quốc duy trì được một thói quen rất quý: viết nhật ký đều đặn hằng ngày. Ngày bận, viết ít. Ngày rảnh rỗi và có hứng viết dài hơn. Điều này rất nên làm đối với bất cứ ai, đặc biệt là những người hoạt động trong lĩnh vực văn hoá văn nghệ. Bởi vì chỉ cần sau vài ba năm đọc lai, tự bản thân đã thấy bên cạnh những trang đáng quên, thì có không ít điều bổ ích xoay quanh những gì mình đã suy tư, nếm trải, những vui buồn rất có ý nghĩa của quá khứ. Có chất liệu nào quý để hình thành nên những tác phẩm để đời của một nhà văn bằng những trang ghi chép của chính mình? Nét đặc thù cơ bản nhất của nhật ký là ở chỉ viết cho mình, mình là tác giả đồng thời cũng là độc giả đầu tiên và nhiều khi là duy nhất. Chính vì thế những trang nhật ký thường hết sức trung thực.


Tập Ngày sống đời thơ của Lê Minh Quốc gồm 47 tiểu đoạn, mở đầu là những dòng nhật ký của ngày 3/1/2015 và kết thúc là những trang viết của anh ngày 31/12/2015. Gọi là nhật ký, nhưng chất tuỳ bút rất đậm. Ta đã rõ, tuỳ bút là một thể loại văn học lợi hại, tạo điều kiện để “cái - tôi - nhà - văn” tung hoành tùy theo hứng bút. Đọc tác phẩm của các cây tùy bút lỗi lạc như Nguyễn Tuân, Võ Phiến, nhìn thoáng qua có thể nghĩ các đoạn, các ý sắp xếp bên nhau có phần lan man, xộc xệch, nhưng đọc kỹ thì thấy tự bản thân các trang viết đó có một cấu trúc bên trong chặt chẽ. Vì thế kinh nghiệm của những người sành thưởng thức văn chương khi đọc tuỳ bút là cấm kỵ việc đọc nhanh, đọc lướt mà phải đọc chậm, đọc nhâm nhi.

Tôi ngờ là Lê Minh Quốc rất ái mộ hai nhà tùy bút nói trên và tiếp bước đi trên con đường của hai ông. Trong cả ba tập Ngày trong nếp ngày, Ngày viết mỗi ngày cũng như Ngày sống đời thơ, ngòi bút của Lê Minh Quốc hình như đã được thả sức phóng túng, tung hoành. Anh nói đến chuyện đời, chuyện nghề, chuyện tình cảm riêng tư. Những trang viết của anh có ba điểm tựa chắc chắn: thứ nhất, vốn sống dồi dào của những năm chiến đấu cũng như của những chuyến đi liên miên bất tận trong những năm làm báo; thứ hai, sức đọc rất khoẻ - đọc tác phẩm của cha ông cũng như những sách mới ra lò, sách của Việt Nam cũng như sách của thế giới; thứ ba, anh là người quảng giao, quan hệ rộng và sâu sắc, chân tình với những người trong giới cũng như các đối tượng trong các lĩnh vực xã hội khác. Ba nguồn mạch đó khiến ngòi bút Lê Minh Quốc luôn dồi dào sức sống, đề tài hầu như không bao giờ vơi cạn.

Tôi tin bạn đọc sẽ xúc động khi đọc những trang Lê Minh Quốc viết về gia đình - đặc biệt về mẹ của mình, về quê hương Đà Nẵng cũng như về những vùng đất mà anh đã đặt chân. Nhưng Lê Minh Quốc dành nhiều trang cho chuyện nghề văn. Anh trân trọng nhắc đến các nhà văn tiền bối như Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà, Nguyễn Hiến Lê, Trang Thế Hy, Sơn Nam… cũng như các nhà văn hóa nổi tiếng như Vương Hồng Sển, Trần Văn Khê, Phạm Duy… Thi hào Nguyễn Du được Lê Minh Quốc nhắc đến khá nhiều lần. Mặt khác anh cũng dành tình cảm ưu ái cho các bạn văn đồng trang lứa như Nguyễn Trọng Tạo, Trần Huiền Ân, Nguyễn Nhật Ánh, Đoàn Thạch Biền, Trương Nam Hương… Với bất cứ ai anh có những nhận xét trân trọng, tinh tế về văn nghiệp nói chung cũng như những cái hay, những điểm xuất thần trong các trang văn cụ thể của họ.

Như trên đã nói Lê Minh Quốc có sức đọc rất khoẻ. Anh “tham lam, ham hố” không bỏ qua bất cứ những bài viết, những cuốn sách nào mà anh thấy lý thú, bổ ích. Có khi của một tác giả Hà Lan xa lạ viết về Việt Nam. Có khi là những cuốn địa chí của xã, huyện nhưng có ích cho nhận thức của người đọc. Lê Minh Quốc không ích kỷ giữ nó cho riêng mình, mà ghi lại trong những trang nhật ký để rồi có dịp đưa lên tay bạn đọc. Có khi đó là nghĩa của những địa danh như “Sóc Trăng, Chắc Cà Đao”… có khi là nội dung đặc sắc của một cuốn sách - chẳng hạn quyển “Một quan niệm về sống đẹp” của Lâm Ngữ Đường (Trung Quốc)…

Dường như khi viết Lê Minh Quốc cố tự kiềm chế, không muốn đề cập đến những nghịch lý của cuộc sống, những mặt non yếu, tiêu cực của xã hội. Thế nhưng đôi lúc anh cũng đã “vượt rào”. Chẳng hạn anh đã đề cập đến, tuy không mới nhưng cần thiết, về sách giáo khoa cho thế hệ trẻ ở phổ thông cũng như sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận giáo viên. Nói về lĩnh vực văn chương Lê Minh Quốc đôi lúc cũng đã tỏ bày ý kiến về tình hình xào xạc, tiêu điều trong lĩnh vực sáng tác - đặc biệt là thơ. Anh cũng luôn tự dặn mình không để ngòi bút phản lại mình, phải hết sức quan tâm đến trách nhiệm của nhà văn đối với công chúng. Những điều tự răn ấy không những có ích cho nhà văn để khỏi đi chệch hướng, đồng thời cũng là lời cảnh báo chân tình cho các cây bút khác.

Đọc xong trang sách cuối cùng, tôi vừa thấy hứng thú vừa cảm thấy có điều gì “chưa đã”. Chắc chắn anh sẽ có tập tạp bút cho năm 2016 và các tập sau đó nữa. Chỉ mong rằng Lê Minh Quốc quan tâm hơn đến những vấn đề xã hội nóng bỏng, bức thiết. Chẳng hạn, người đọc muốn biết thái độ của anh trước sự lao đao khốn đốn của ngư dân bốn tỉnh miền Trung, về hiện tượng “không tìm người tài mà chỉ kiếm người nhà” cũng như sự xuống cấp đến mức “báo động đỏ” của đạo đức trong rất nhiều phương diện của xã hội.

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, đó là một yêu cầu mang tính nguyên tắc của muôn đời. Nhà văn không thể lảng tránh. Tất nhiên đối với những vấn đề nhạy cảm, người viết phải rất thận trọng, nghiêm túc, xây dựng. Những kinh nghiệm này tôi ngờ là Lê Minh Quốc đã có thừa. Chẳng qua với tình bằng hữu văn chương, tôi xin nhắc lại với anh và cả tin anh sẽ làm rất tốt.

Ngày 27.8.2016
PGS-TS TRẦN HỮU TÁ
(Lời tựa Ngày sống đời thơ)


ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:




Nhà thơ Đỗ Nam Cao & những cánh cò lửa

Đỗ Nam Cao đã góp một sắc màu cho bức tranh thơ hoành tráng của giai đoạn kháng chiến chống Mĩ thêm đậm đà…
Nhà thơ Đỗ Nam Cao

1. Viết về cuộc đời và thơ Đỗ Nam Cao, có thể là không ai viết kỹ và hay như các bạn của anh. Những đồng môn, đồng chí, đồng lòng… và hơn thế, những tri âm tri kỷ. Cũng phải kể thêm cả những người bạn quý mến Đỗ Nam Cao, về tài năng và đặc biệt là nhân cách của một nhà văn, theo đúng nghĩa của cụm từ này. Hạnh phúc thay cho Đỗ Nam Cao, khi bên anh có rất nhiều người bạn thủy chung, chí nghĩa chí tình, lại còn là những người nổi tiếng, đầy tài năng.

Tôi không có duyên được học cùng khoa cùng lớp với Đỗ Nam Cao ở bậc đại học. Nhưng tôi lại có chung với anh cái gọi là “bản mệnh” của những người tuổi Mậu Tý (1948). Vất vả, gian truân, bởi trót dính với nghiệp văn chương, cho dù dày mỏng có ba bốn bề khác nhau.

Thơ Đỗ Nam Cao đến với bạn đọc từ khá lâu, nhưng hình như vẫn còn thưa thớt. Và thực ra cũng chưa để lại nhiều ấn tượng, bởi nhiều lý do, khách quan có, chủ quan cũng có. Mới đây, được đọc khá đầy đủ về anh, mới hình dung ra một hồn thơ khang khác. Một thi sĩ bản lĩnh, rất giàu nội tâm, càng viết càng hay…

2. Tôi biết, có nhiều nhà thơ tuổi càng cao viết càng nhạt. Có thể là ở sức bền. Tuổi đời có dày thêm, vốn sống có đầy thêm, nhưng hình như trong túi lại không nhiều vốn văn hóa. Câu chữ vẫn dồi dào, nhưng chất thơ mỏng dần. Cũng không loại trừ trời cho chỉ có thế. Đỗ Nam Cao thì có khác. Và cũng không chỉ Đỗ Nam Cao, khá nhiều thi nhân tuổi càng cao lại viết càng sâu. Chữ ngắn đi, nhưng tình thơ ý thơ thì cứ dài thêm mãi, đặc biệt là những suy tư thăm thẳm nỗi đời, những ký thác giàu chất triết học, chính là phẩm chất cốt tử của thơ.

Tôi chưa có tham vọng viết về toàn bộ sự nghiệp thơ của thi nhân họ Đỗ, trong bài viết nhỏ này chỉ xin được nói đôi điều về phần thơ của Đỗ Nam Cao thời trai trẻ, khi anh còn là người chiến sĩ ở chiến trường, cầm bút và cầm súng trực tiếp đối diện với quân thù. Phần thơ ấy, có tên là Những cánh cò lửa, gồm 33 bài cả thảy.

Trước hết, phải nói ngay rằng, đây chưa phải là phần thơ đặc sắc nhất của Đỗ Nam Cao. Phần đặc sắc của thơ Đỗ, chính là những bài thơ kể từ khi Đỗ Nam Cao bắt đầu vướng vào những hệ lụy của gia đình và theo đó là cả chính cuộc đời anh. Càng về sau, thơ Đỗ Nam Cao càng chặt chẽ hơn, tinh luyện hơn, day dứt hơn, và không ít những câu thơ chói sáng, đầy bản lĩnh và chiêm nghiệm. Đó là những bài thơ trữ tình bản thể, chan chứa tinh thần nhân văn, nhân bản. Tuy nhiên, với phần đầu, Những cánh cò lửa, Đỗ Nam Cao cũng có những thành công nhất định, thể hiện nhiệt tâm những cảm hứng công dân cao cả, sáng trong, của một thời khốc liệt, đau thương mà anh dũng tuyệt vời của dân tộc, thà hy sinh tất cả, quyết giành lại độc lập tự do.

3. Những năm ở chiến trường, Đỗ Nam Cao sống nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và đặc biệt là vùng ven Sài Gòn. Những cái tên Củ Chi, Bến Cát, Trảng Bàng, sông Sài Gòn… cứ vang lên trong thơ Đỗ Nam Cao thật nhiều nỗi niềm, nồng cháy tình yêu con người, cho dù cuộc sống kháng chiến vô vàn gian khổ hi sinh. Một điều dễ thấy, cuộc sống kháng chiến thì như vậy, không thể nói là chỉ rặt một màu lạc quan, nhưng trong thơ Đỗ Nam Cao thì cảm hứng lạc quan là xuyên suốt, chủ đạo. Và đó cũng chính là cội nguồn để con người có thể vượt lên trên tất cả những đau thương mất mát, để tình thơ cất cánh.

Điều ấy thể hiện ở tất cả các bài thơ Đỗ Nam Cao viết thời kỳ này. Bài thơ Những cánh cò lửa, cũng là tên chung cho cả phần thơ thứ nhất trong tập thơ Đỗ Nam Cao. Anh viết: Xuồng đi hối hả tiền phương/ Băng qua đồng cỏ, chiều buông Tháp Mười/ Mây hừng lên sắc đỏ tươi/ Một con cò trắng ngang trời liệng chao. Đấy là thi ảnh mà người thơ bắt gặp trong một lần công tác, chèo thuyền băng qua Tháp Mười mênh mông. Một buổi chiều rất đẹp, như chưa hề thấy mùi vị của chiến tranh. Tôi từng là lính đặc công, chiến đấu ở chiến trường khu 5, nhiều lần từ trên rừng xuống đồng bằng đi chuẩn bị chiến trường, hoặc chuẩn bị bước vào trận đánh ban đêm, cũng gặp khá nhiều những buổi chiều êm đềm, trong veo như thế, đôi lúc có cảm giác như chả thấy có gì là chiến tranh cả. Nhưng Đỗ Nam Cao ở chiến trường Nam Bộ, Tháp Mười chỉ thấy màu xanh cây cỏ, chân trời xa tít tắp, hoàng hôn đỏ thắm như một tấm phông choàng lên cánh đồng. Đỗ Nam Cao cảm nhận rất rõ những nét đặc trưng ấy ở vùng Tháp Mười. Hơn thế, lại bất chợt một con cò trắng ngang trời liệng chao, thì sao có thể cầm lòng cho được? Còn nhớ Vương Bột đời Đường bên Tàu có câu: Lạc hà dữ cô lộ tề phi/ Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc (Ráng chiều với cánh cò cùng bay/ Nước xanh với trời xanh một màu). Thơ Trần Nhân Tông, thơ Nguyễn Trung Ngạn đời Trần, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… ở ta, cũng chả thiếu những thi ảnh tràn đầy mĩ cảm như thế này, nhưng chủ yếu là trong những văn cảnh mà thi nhân nhàn tản, tâm hồn thư thái, tức cảnh sinh tình. Đỗ Nam Cao của chúng ta thì khác. Anh đang cùng với đoàn thuyền hối hả vào tiền phương, hình như là chuẩn bị cho một trận chiến ác liệt trong đêm. Cảnh xuất hiện trên đường hành quân gấp gáp, đầy hiểm nguy giữa cánh đồng hoang trống trải. Tâm thế khác rồi, ấy vậy mà thi nhân chiến sĩ họ Đỗ vẫn để tâm ngắm nhìn thiên nhiên, rồi bất chợt một tứ thơ ào đến. Có thể bóng dáng của câu thơ Vương Bột bấy lâu ủ kín trong lòng, nay gặp cảnh tương tự, lại rung lên những tiếng đồng điệu chăng? Thế chẳng phải là cùng với bản lĩnh của thi nhân chiến sĩ, thơ có thể làm cho con người cao đẹp lên, lớn lên đấy ư?

Ở phần tiếp sau của bài thơ, tứ thơ được triển khai, cũng chỉ là xoay quanh hình ảnh con cò. Vẫn con cò của ca dao/ Con cò lặn lội bờ ao ướt mình. Con cò hiện hữu, gợi nhớ hình ảnh con cò ngày xửa ngày xưa, của tuổi thơ, của ca dao mà ta từng nghe và thấm vào lòng như uống dòng sữa mẹ. Nhưng cò bay trong ráng chiều đỏ thắm, nên Xa trông như ánh lửa bùng/ Cánh con cò cháy một vùng trời cao. Hình ảnh con cò từ cụ thể đã được nâng lên thành con cò lửa, như là biểu tượng của một niềm tin đang bùng lên, cháy lên rực rỡ. Bài thơ được kết thúc bằng một liên tưởng đẹp và lãng mạn: Xuồng đi mây ửng ngọn sào/ Tôi mang đôi cánh lửa vào tiền phương.

Có thể nói, không ít bài thơ trong Cánh cò lửa đều được cấu trúc hình thức kiểu hiện tại, quá khứ, tương lai như thế. Ví như bài Những nấm mồ, bài Chuyện về những búi cỏ, bài Ở trong một cái chốt cũ của giặc Mĩ, rồi Hương sầu riêng v.v…

Bài Những nấm mồ được tác giả thể hiện như một ghi chép từ hiện thực trong chiến tranh, nơi Đỗ Nam Cao từng đi qua, như anh từng đi qua rất nhiều địa danh thuộc vùng ven thành phố Sài Gòn. Những người đã trải qua chiến tranh, như rất nhiều các anh các chị từng đội mũ tai bèo làm quân giải phóng năm xưa, cũng đã chứng kiến nhiều nấm mồ như thế. Đỗ Nam Cao thể hiện điều ấy bằng một bài thơ giàu cảm xúc. Đám ruộng ngày xưa biến thành nghĩa địa/ Một con đường mòn chúng tôi hành quân qua. Bên con đường mòn ấy là những nấm mồ, ở đó, có những trụ đá ong cắm vào góc mộ, cũng không biết ai nằm nơi đây? Tác giả hình dung những người đang nằm dưới mộ kia có thể là người gieo hạt trồng cây, có thể là người đắp đất xây nhà, cời than bếp lửa, có thể là một má già ngồi ngoáy trầu bên cửa, một cháu nhỏ, một cô gái bâng khuâng trong dáng hẹn hò… Họ là những người dân hiền lành chân chất, bị giặc Mĩ sát hại. Những sinh linh đáng thương ấy, dù chưa biết tuổi tên cụ thể, chưa rõ nụ cười, giọng nói, dáng đi, nhưng hết thảy đều vô cùng quý giá/ Những người dân đất nước tôi! Cũng theo tác giả, tất cả ruộng vườn, dòng sông, hoa lá… đều là kẻ thù của bầy dã thú/ Bọn ghê sợ con người/ Giày xéo quê hương mười mấy năm rồi! Tình cảm người chiến sĩ trong con người thi sĩ được chuyển hóa thành nhận thức về trách nhiệm của những người đang sống, căm giận sẽ biến thành lửa đạn trút lên đầu thù: Chúng tôi đi chẳng nói lên lời/ Nếu phút này quân thù xộc tới/ Những trụ đá tổ ong sẽ biến thành bệ súng/ Vụt lao đi trong luồng lửa sáng ngời. Đỗ Nam Cao là vậy. Sòng phẳng, quyết liệt và sáng trong.

Đỗ Nam Cao quan sát rất kỹ cuộc sống của nhân dân và chiến sĩ trên đường anh qua. Quan sát, lắng nghe và suy ngẫm. Hiện thực ấy lại được đưa vào thơ, hay là được biểu hiện bằng hình thức thơ, tinh tế và chân thực. Ví như cây cỏ tranh, vốn là một thứ cỏ hoang, nhà nông rất ghét. Nhưng đó lại là một thứ cỏ không hoàn toàn vô dụng. Cỏ tranh có thể lợp nhà, lá sắc bén như gươm. Thấy cỏ cháy, lòng thi nhân quặn đau: Bén từ ngọn đến gốc sâu/ Lại hiền hậu mái tranh màu vàng ươm/ Lào xào như thể rừng gươm/ Màu xanh sắc cạnh, cỏ vươn giữa trời. Và trái tim người thơ nhận thấy Cỏ như cũng có hồn người ở trong. Viết về Dáng bông lúa, Đỗ Nam Cao có cái nhìn rất nhân sinh: Những bông lúa uốn câu/ Cúi lặng hôn mặt đất/ Từng hạt lúa như long lanh nước mắt… Cũng như vậy, anh cảm nhận về quả Dưa hấu Trảng Bàng: Đạn bom mười mấy năm trời/ Đất nồng xám để dưa tươi đỏ lòng. Khi viết về Tiếng xay lúa trong đêm, ở một vùng ven Sài Gòn, Đỗ Nam Cao kể rằng đang nằm trên võng, anh chợt nghe tiếng ù ù ầm ầm. Chỉ là tiếng xay lúa trong đêm thôi, nhưng nó đã khuấy lên trong lòng thi nhân biết bao nỗi niềm. Đã lâu rồi không còn nghe nữa/ Mười mấy năm hoang tàn đạn lửa/ Ruộng hóa nên đồng cỏ trác cỏ may. Rồi biết bao ký ức tuổi thơ tràn về, với hình bóng mẹ còng lưng xay lúa, và anh kết luận: Từ nghìn đời nghe vẫn thế này/ Cái tiếng ngọt ngào, cái tiếng đắng cay/ Trong câu đố ngỡ òa tiếng khóc/ Mà đêm nay, đêm nay hạt thóc/ Cứ ngân nga trong lòng cối tre xoay… Sự tinh tế trong quan sát hiện thực chiến tranh, ở Đỗ Nam Cao thường đi liền với những cảm thức nhân văn. Ví như nhìn những đụn khói bom, chắc là do máy bay B52 của Mĩ thả xuống nhằm triệt hạ sự sống ở vùng ven, anh thấy Những đụn khói ùn lên/ Như bãi nấm màu đen và liên tưởng: Loài nấm này chưa biết đặt tên/ Hãy cứ gọi nó là nấm độc/ Hãy cứ gọi nó là nấm chết. Nghĩa là, loài nấm này chỉ có thể đem đến sự hủy diệt đời sống con người.

Trong Những cánh cò lửa, Đỗ Nam Cao chẳng những thể hiện tình yêu của anh với bạn bè, đồng đội, mà anh còn thể hiện tình cảm đó với người anh thương, với đứa con được sinh ra trong rừng, với cô gái thợ cày, với người bắn “cá rô” ở Củ Chi, với bà má chợt gặp trong một đêm đột ấp… Tất cả hiện lên một cách chân thật, rất đáng yêu và trân trọng. Những con người mà chiến tranh khốc liệt đã tôi luyện họ thành sắt thép, nhưng rất giàu nghĩa giàu tình. Tất cả, anh gọi đó là nhân dân. Trong gian khổ, cuộc sống vẫn nở hoa, tình yêu vẫn nở hoa như một sự bất tử của niềm tin chiến thắng.

Ở Trảng Bàng, ngày 14/3 năm 1975, Đỗ Nam Cao đã Ở trong một cái chốt cũ của giặc Mĩ. Ấy là khi quân Mĩ đã rút đi rồi, chỉ còn trơ lại một cái chốt cũ, như một chứng nhân của tội ác mà quân thù từng gieo rắc nơi đây. Bây giờ thì đã Xanh mượt mà cò bay/ Làm kẽm gai rỉ nát/ Tầm vông xòe bóng mát/ Măng cứ đâm lên dài. Rồi thì Lô cốt một và hai/ Nền xưa lô cốt mẹ/ Hoa mướp vàng ong ghé/ Gió đung đưa quả dài. Lại còn Mập mạp những vồng khoai/ Hàng cà hoa tím mãi… Nhưng ký ức đau thương bỗng lại hiện về, để Thương một người con gái/ Thương một người con trai đã hi sinh ở chính nơi này. Tác giả kết luận: Những vết thương mau lành/ Hờn căm còn cháy bỏng/ Mặt chốt nhìn rất phẳng/ Mênh mông một cánh đồng…

Còn có thể nói nhiều hơn nữa về Những cánh cò lửa trong tập thơ của Đỗ Nam Cao. Đọc thơ, thấy hiện lên chân dung những con người cụ thể đã từng sống bên anh, sống với anh và ngồn ngộn tươi ròng sự sống chiến đấu gian khổ hi sinh. Từ đó, chúng ta có thể hình dung ra những năm tháng rất đỗi tự hào của một vùng đất anh hùng. Từ đó, có thể phần nào hình dung gương mặt của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc.

Như trên đã nói, Những cánh cò lửa chưa phải là phần thơ đặc sắc, về nghệ thuật thơ ca, so với chính thơ Đỗ Nam Cao ở giai đoạn sau này, và so với nền thơ chống Mĩ. Anh chỉ thấp thoáng đâu đó trong đám đông những nhà thơ thời chống Mĩ, với những Thanh Thảo, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Đình Văn, Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo, Diệp Minh Tuyền… Nhưng Đỗ Nam Cao cũng có những nét riêng, trẻ trung, đằm thắm và chân thực, mặc dù đây đó trong thơ anh còn rải rác những khổ thơ không cần thiết cho việc cấu tứ, những câu thơ ý thơ lặp lại mà không tạo thêm được nét nghĩa mới cho bài. Dù vậy, tôi vẫn cho rằng Đỗ Nam Cao đã góp một sắc màu cho bức tranh thơ hoành tráng của giai đoạn kháng chiến chống Mĩ thêm đậm đà, như thế chẳng đáng quý lắm sao?

Hà Nội, 9.2012
VŨ BÌNH LỤC

Nguồn: VNQĐ

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:




Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Nhà thơ Nguyễn Thái Dương - từ trong thân hữu

Ngoài thơ, Nguyễn Thái Dương để lại cho thế hệ cầm bút sau nhiều kỷ niệm đẹp và lòng biết ơn. Chính anh là một trong những người có công đầu trong việc tạo dựng và “nuôi dưỡng” Vòm Me Xanh…

Loáng một cái mà đã nửa đời người. Thế hệ làm thơ trưởng thành sau 1975 của chúng tôi đã bước qua tuổi 50. Chao ôi! Xuân xanh trái chín cái nỗi gì nữa ở tuổi này? Già rồi chăng? Vì thế trong bài thơ khai bút của đầu năm nọ, từ rét buốt của gió sóng bên bờ sông Hàn (Đà Nẵng), tôi nhắn qua điện thoại cho nhà thơ Nguyễn Thái Dương: “Chân trời trắng ngọn cỏ lau/ Ngày vui qua vội, chiêm bao nhạt nhòa/ Tưởng rằng mới khóc oa oa/ Xuân xanh Mậu Tý đã là 50”. Không ngờ chỉ một vài phút sau, anh nhắn lại, cũng bằng thơ: “Mới vừa nửa thế kỷ thôi/ Đang vui sao lại đứng, ngồi đăm chiêu?/ Mắt còn sớm, tóc chưa chiều/ Lòng hừng đông giữa thương yêu sông Hàn/ Cớ gì thi sĩ hoang mang/ Rằng “vui qua vội” buồn đang loang vào?/ Tiếng oa oa thật ngọt ngào/ Vang lên hóa giải biết bao nỗi niềm”.
Nhà thơ Nguyễn Thái Dương

Đọc thơ của bạn mà ứa nước mắt. Chơi với nhau bao nhiêu năm, phải hiểu lắm mới có thể viết “Tiếng oa oa thật ngọt ngào”. Tính cách của nhà thơ Nguyễn Thái Dương là vậy. Luôn điềm tĩnh và chia sẻ với bạn hữu. Cẩn trọng và chu đáo. Lặng lẽ và nói ít. Một “đặc điểm” dễ nhận ra ở anh vẫn là... nói ít! Nhà thơ Đoàn Vị Thượng thường… cà khịa: “Ngồi nhậu với Nguyễn Thái Dương đôi khi... hơi bị chán!”. Tôi gật đầu, bởi trong lúc những đệ tử Lưu Linh hào hứng có thể tuyên bố vung vít bán cả trời, thì anh vẫn ngồi cười một cách… im lặng. Thậm chí, trong cuộc sống riêng chẳng bao giờ anh muốn làm phiền đến người khác. Mới trước Tết đây thôi, chẳng rõ đi đứng thế nào mà anh vấp té cầu thang, chân phải băng bột, nằm nhà cả tháng trời nhưng anh vẫn “thin thít như thịt nấu đông”, không thông báo cho bất cứ ai. Khi bạn bè biết, trách, anh cười khì: “Sợ bạn bè bỏ việc đến thăm mình, mà cuối năm thì ai cũng bận bịu cả. Hơn nữa nhà mình xa...”.

Trước năm 1975, trên căn gác nhỏ đìu hiu ở đường Lý Thái Tổ, có một cậu sinh viên từ Quy Nhơn vào Sài Gòn trọ học. Sinh viên thời ấy vốn nhiều mơ mộng, họ thích đọc những Jean Paul Sartre, Albert Camus hoặc Henry Miller... và làm thơ, làm báo! Cậu sinh viên xa nhà ở trọ cũng vậy. Một mình cậu đã trần trùng trục viết bài, sửa bản in rồi đem phát hành tập san Vỡ đất. Tất nhiên, tờ báo này lúc ấy chỉ in typo và phát hành trong… nội bộ nhóm thân hữu Đập Đá, Bình Định của quê cậu. Mà hồi đó, cũng như nhiều “mầm non văn nghệ” khác, cậu sinh viên này ký bút danh thật oách: Nguyễn Mặt Trời! Và có thơ in báo hẳn hoi.

Thuở mới học trung học, tôi đã được đọc bài thơ Cọng cỏ thơm ký tên Nguyễn Mặt Trời in trên tạp chí Thời Tập do nhà văn Viên Linh chủ trương. Thơ rằng: “Một chớp đỏ phương đông / Giữa đồng không mông quạnh / Sương mấy vòng sụp lạnh / Tung chăn nhìn hoa bay / Em, một loài phương thảo / Thơm giọt nắng đầu cành / Em, loài hoa mộng ảo / Những đêm trời sáng trăng”. Bài thơ này in trên số báo ra ngày 15.11.1974. Nhớ, vì đó là số báo Thời Tập đặc biệt có chủ đề “Nguyễn Tuân, thanh âm và nhan sắc”. Mà nhắc đến nhà văn bậc thầy Nguyễn Tuân là Nguyễn Thái Dương “mê tít”, chính vì thế được in bài thơ trên số báo này với anh mãi mãi là một kỷ niệm đẹp. Anh tâm sự: “Vào những năm 1970 của thế kỷ trước - chiến tranh với các phong trào phản chiến, Hát cho đồng bào tôi nghe, Về nguồn… nổi lên rất rầm rộ ở miền Nam... Là một sinh viên, tôi cũng có những niềm thao thức, những lựa chọn. Dù chưa biết phải làm gì nhưng tự cảm thấy đứng ngoài cuộc là một sự lạc lõng, lỗi nhịp. Tôi đã cầm lên cây bút để sáng tác là vì thế. Và có ngờ đâu cái nghiệp viết lách đã theo mình đến tận bây giờ”.

Sau năm 1975, chàng sinh viên này tốt nghiệp Đại học Sư phạm TP.HCM và về dạy học ở trường huyện miền biển Duyên Hải và bắt đầu xuất hiện bằng tên thật Nguyễn Thái Dương dưới các bài thơ mới. Chừng vài năm sau, anh về Trường PTTH Lê Quý Đôn làm chủ nhiệm và dạy lớp chuyên văn đầu tiên của TP.HCM. Dấu ấn của những năm tháng này khá đậm nét trong tập thơ đầu tay Bầu trời thơ, hạt bụi thơ (1987). Loáng một cái mà đã hai mươi năm! Mới đây thôi, trước Tết Mậu Tý, tôi và đạo diễn Trần Tuấn Hiệp đi thực hiện những thước phim tài liệu Sài Gòn ký sự (VTV). Khi dừng chân trước “phố thư pháp” ngay trước Nhà văn hóa Thanh Niên, anh Hiệp có hỏi một “ông đồ” trẻ: “Thông thường các bạn trẻ hay đến đây thuê viết những câu thơ nào?”. Tôi nghe kể một vài tên tuổi thi sĩ lừng danh và: “Dạ, họ còn nhờ bọn em viết hai câu thơ:

Cha là bầu trời thơ, thơ con là hạt bụi
Con lẫn vào cha từ bé đến muôn đời"

Đó là thơ của Nguyễn Thái Dương. Tôi nghe mà mừng cho bạn. Có lần anh bảo: “Thật không công bằng nếu văn học chỉ chú tâm đến đến người mẹ mà hờ hững với người cha, bởi cả cha lẫn mẹ đều tạo nên hình hài đứa con”. Đành rằng như thế, nhưng ít ai biết rằng, anh viết về cha cũng từ thôi thúc của người con sớm tạm biệt vòng tay cha thuở anh mới... lên ba! Ngày ngày tháng tháng “nâng bát cơm lên đã thấy bóng cha rồi” đã giúp anh có được bài thơ hay. Sau tập thơ đầu tay, anh lại có Chút tình riêng thuở ấy, Cổ tích về quả banh (Thơ thiếu nhi), Uốn khúc (Thơ), Quanh chuyện viết văn làm thơ, Khi chúng ta bước đầu cầm bút (tiểu luận),... Không như người sáng tác cùng thế hệ, Nguyễn Thái Dương là người trước nhất muốn đổi mới một thể loại thơ. Ý thức này âm ỉ trong anh nhiều ngày tháng. Rồi một hôm nơi quán Đo Đo của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, anh đã chiêu đãi một chầu nhậu “hoành tráng” để... mời bạn bè nghe một loạt thơ mới. Anh chọn thể loại lục bát truyền thống để thổi vào đó một hồn mới và kỹ thuật mới. Chẳng hạn, đây là “lục bát trắc”:

Xuống trăm ghềnh, lên nghìn thác
Vượt không qua lời giảo hoạt Lý Thông
(Thạch Sanh)

Lá đa ơi, đừng rơi mãi
Tiếng chổi khàn, cháu chắt sãi đang khua...
(Sãi)

Sợi dây dài, lòng không thẳm
Tiếc rẻ gì, anh dấm dẳng giếng nông?
(Giếng)

Hoặc đây là “lục bát cặp”:

Mong tròn tháng, đợi tròn ngày
Không bằng mơ cạn một giây bất ngờ
o
Mai này mai một ngày xưa
Tiễn đưa nhau để chờ đưa tiễn mình
o
Mình đang xuôi dọc con thuyền
Sao đò người ấy trùng triềng sang ngang?

Cứ mỗi cặp lục bát là một tứ thơ mới nằm chung trong trong tổng thể của một bài thơ. Không dừng lại đó, anh còn tiếp tục “tung tẩy” với “lục bát trắc tứ tuyệt”, chẳng hạn:

Ngỡ như không còn sương khói
May còn hơi thở được gối hơi thở
Tưởng như không còn trăn trở
May còn giây phút nức nở vào nhau
(Ngỡ)

Ngoài thơ, Nguyễn Thái Dương để lại cho thế hệ cầm bút sau nhiều kỷ niệm đẹp và lòng biết ơn. Chính anh là một trong những người có công đầu trong việc tạo dựng và “nuôi dưỡng” Vòm Me Xanh. Bút nhóm này là một “đặc sản” của báo Mực Tím, ra đời trong thập niên 1990 mà bấy giờ anh đang là Thư ký toà soạn. Nơi này đã quy tụ và hình thành nên những cây bút mà bây giờ đã có tên tuổi như Nguyễn Danh Lam, Gia Bảo, Nguyễn Khắc Cường, Quốc Sinh, Tiểu Nhật, Nguyễn Hữu Hồng Minh... Anh bảo: “Hồi ấy, mỗi tháng một lần vào chủ nhật cuối, các em đã quy tụ về sinh hoạt. Nội dung sinh hoạt là cùng đọc và góp ý những sáng tác mới; hoặc nghe các nhà văn nhà thơ đi trước nói chuyện về nghề văn...”. Đến nay, Bút nhóm này vẫn còn sinh hoạt như thế, dù anh không còn là “chủ xị” nữa.

Năm tháng đã đi qua vội vàng. Sực nhớ lại ngày đầu sau năm 1975, cái thuở trai tráng nhiều trăn trở với bao nhiêu kỷ niệm, Nguyễn Thái Dương trầm ngâm: “Tôi vẫn nhớ vẫn thương hình ảnh tuổi trẻ của thế hệ mình. Đó là một Nguyễn Nhật Ánh, một Bùi Chí Vinh đạp xích lô kiếm sống và có hôm đạp xe vào thằng căn-tin tòa soạn báo uống cà phê sớm. Một Phạm Sỹ Sáu từ chiến trường Campuchia về mở túi dết lấy bịch thuốc rê vấn hút, điếu nào điếu nấy to bè như ngón chân cái. Một Cao Huy Khanh mê World Cup đi đâu cũng trùi trụi cái quần jeans bạc phếch, trên quần ghi luôn tỷ số các trận đấu. Một Đoàn Vị Thượng dạy học, túi quần lúc nào cũng láp nháp mấy viên phấn gẫy vì anh lo lên lớp mà thiếu phấn giảng bài. Một Đoàn Thạch Biền “nghiêm túc” không bao giờ rời bỏ bộ quần áo xanh công nhân trông rất tức cười mà đáng yêu. Một Võ Phi Hùng có chiếc xe đạp cà tàng mà ruột xe bị lỗ mọt, vá hoài cũng vậy nên lúc nào cũng kè kè theo cái bơm xe. Một Thanh Nguyên có hai bàn tay luôn lấm lem mực ở xưởng sơn mài… Vậy đó, nhưng tình yêu văn chương vẫn say mê, không toan tính, không mặc cả...”. Loáng một cái mà thế hệ chúng tôi đã bước qua cái tuổi năm mươi. Và Nguyễn Thái Dương vẫn là người trước nhất trong thế hệ chúng tôi được vinh dự lên chức... ông ngoại! Anh bảo: “Vậy là vui”.

Thời gian qua nhanh. Gần đây nhất, tưởng rằng bạn mình đã ít làm thơ. Nào ngờ, anh “tung” ra tập thơ thiếu nhi mà bạn thơ Cao Xuân Sơn trực tiếp nhận bản thảo và thích thú: Thời gian trốn ở đâu? (NXB Kim Đồng). Hào hứng với sự trở lại sau gần 20 năm Nguyễn Thái Dương không in tập thơ nào, nhà phê bình Huỳnh Như Phương ghi nhận: “Nhà văn Tô Hoài có lần bảo rằng viết cho tuổi thơ phải cố gắng đạt ít nhất hai điều: nghịch và đẹp. Tập thơ này đáp ứng hai yêu cầu đó. Tuổi thơ mà không nghịch thì đâu là tuổi thơ. Viết cho tuổi thơ mà nghiêm nghị thì sẽ mất vui, như viết cho “ông cụ non”.”

Thật vậy, tính chất dí dỏm, tươi trẻ chan chứa, hài hòa trong tập thơ này. Chẳng hạn, niềm vui ngày đầu tiên đi học của cháu, nhà thơ “phong” cho chức danh “hoàng thượng đi khai trường”: Người đâu, chuẩn bị… cơm sườn/ Trẫm xơi rồi trẫm tới trường Mầm Non”. Và anh giải thích cho cháu về khái niệm thời gian: “Thời gian là một nụ cười/ Nở ra từ tiếng khóc hồi… bi bô/ Từng giây từng phút từng giờ/ Trôi qua có nghĩa… đừng mơ ngược về/ Hiểu rồi, cháu thấy… dễ ghê:/ Thời gian trốn giữa bốn bề không gian". Thời gian qua nhanh. Mà vui thật đấy chứ. Mới đây thôi chừng… mươi năm, anh còn làm ngựa cho con mình cỡi trên lưng và ước mơ:

Mai này cha quỵ chân bon
Con lại làm ngựa cho con cháu mình

Thì nay niềm vui đã hiện hữu trong đời...  Thấy vậy là vui.

LÊ VĂN NGHỆ
Nguồn: ANTGCT - 7.2016


ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Cái lạ trong thơ Trần Lê Khánh

Đọc thơ Trần Lê Khánh tôi có suy nghĩ là tôi và anh đang chơi với nhau một ván cờ mà các ma trận ngôn ngữ của anh đã dự đoán vài nước trước tôi. Đã nhiều lần tôi gõ cửa mà chỉ bắt gặp một ít, rất mong manh trong tâm hồn anh…

Dòng chảy thi ca của dân tộc ta đã vượt qua hành trình thăm thẳm những thăng trầm, bởi ảnh hưởng của các tư tưởng Đông Tây kim cổ, mà điểm nhấn là các cuộc cách mạng thi ca, giằng co, hờn dỗi, bút chiến, trong thời gian khá dài giữa cái mới và cái cũ, giữa bảo thủ và đổi mới, giữa truyền thồng và hiện đại. Thế rồi cũ mới đã tiếp nhận nhau, khách quan mà nhường chổ, mà kết nối. Tất cả rồi chung cuộc ta đã có một dòng chảy thơ Việt Nam, uyển chuyển, từ ngàn xưa mà tôi tin rằng sẽ đến mai sau.
Nhà thơ Trần Lê Khánh

Hôm nay, trong hoàn cảnh đất nước thanh bình, những cởi mở tự do trong thi ca, ảnh hưởng tư tưởng thế giới tràn vào theo những bước tiến văn minh nhân loại, điều kiện tiếp nhận thông tin vô cùng thuận lợi, đã mở ra một tương lai mênh mông cho thơ. Có lẽ để gạn lọc, chiết xuất cho ra một chặng đường mới cho thơ Việt hôm nay mà đất nước ta càng ngày càng xuất hiện nhiều nhà thơ, nhiều thế hệ nối kết. Có nhiều nhà thơ thế hệ trước không chịu dừng chân mà luôn làm mới mình. Có những người viết trẻ lại thổi hồn hiện đại vào truyền thống, kết nối đổi mới trên nền tảng của văn hóa Việt, trong đó có Trần Lê khánh.

Đọc thơ Trần Lê Khánh tôi có suy nghĩ là tôi và anh đang chơi với nhau một ván cờ mà các ma trận ngôn ngữ của anh đã dự đoán vài nước trước tôi. Đã nhiều lần tôi gõ cửa mà chỉ bắt gặp một ít, rất mong manh trong tâm hồn anh. Về hình thức, anh nặng về thơ không vần, những bài thơ ngắn, tính khái quát cao, mượn muôn việc để nói một việc, mượn muôn điều để nói một điều, có lẽ vì vậy mà đòi hỏi ở người đọc phải có thời gian, phải đau đầu, trong quá trình cảm nhận: Ví dụ trong bài "Khi bóng lên ngôi" anh viết:

Biển bước chân lên cát nắng/ đi mãi không đến được nơi/ rách tươm đôi giày trắng/ đổ mồ hôi thay áo ngàn đời/ bầy tiên cá xuống biển bơi/ hóa thân về mấy phương trời/ mắc cạn nơi cơn gió lặng/ biển thành dãy núi đứng chơi/ trời cao đánh rớt thế gian/ mộng du lớp lớp thiên đàng/ lần tay tìm loài cây cỏ/ dấu chân mây trắng lang thang/ người dọ dẫm chốn hư vô/ thiên thai ngàn mé điên rồ/ bỏ sau lưng bước không tới/ khi ngàn lần bóng lên ngôi.

Ở đây có cách rớt câu, mà anh vẫn chuyển được ý, tạo ra tính chuyền điện của câu, khi đọc lên tuy ta chưa hiểu được gì nhưng nghe nó thích thích rồi đọc vài lần thì ấn tượng. Cách viết những chữ đầu câu không viết hoa, và toàn bài, nhiều bài trong tập đều như thế, phải chăng anh muốn giãn ý, để rõ từ, hay là để ấn tượng câu thơ đẹp chăng? Cách viết này tôi cũng đã thấy trong bài “Phục sinh” của Thanh Tâm Tuyền, “Thì đi về phía biển" của Nguyễn Xuân Thiệp, “Bậc thang” của Khế Iêm hay trong “Linh mục” của Nguyễn Tất Nhiên, vân vân. Tuy nhiên, mỗi bài anh viết không dài, tính khái quát cao làm cho ta dễ cảm nhận. Ở đây anh đã dùng nhiều hình tượng lạ như: Biển bước chân lên cát nắng, mồ hôi thay áo, cơn gió mắc cạn, dấu chân mây trắng, anh đã thông minh và khôn khéo trong nhân cách hóa mở hồn mình cho thiên nhiên ùa vào, nói như cách nói của nhà thơ Thanh Tùng, chính anh đã cùng thiên nhiên để giải mã phận người.

Với một thi pháp mới mẻ anh đã đưa vào cái mênh mông không bao giờ lấp được của phận người, những câu thơ ngắn gọn mà hàm súc triết lý “lão tiều phu/ chiều chiều/ vung búa bổ vào bóng mình/ đã tám vạn bốn ngàn lẻ tịch lần/ bó chặt từng cái bóng/ nhiều bó nặng/ gánh về đâu” trong bài “Chẻ củi” tôi nghĩ đây là bài thơ hay, giàu chất thơ và chất nhạc.

Trong bài “Trái tim kiến cắn” anh viết: "con kiến lạc đàn/ áp tai vào đất/ tìm bước chân của bầy đàn/ rầm rập đêm thâu, đây là khổ 1 và khổ 2. Con kiến vàng / lưng quằn hạt gạo/ bước chân lao xao tìm đàn/ lạc vào trái tim em/ trái tim kiến cắn". Anh thể hiện cái chuyện hóc hiểm bây giờ mà lại âm điệu truyền thống qua thể đồng dao làm cho ta thích đọc và nhanh nhớ. Cái tứ thơ này lạ quá tôi rất ấn tượng. Tính nối kết trong tâm hồn anh rất thấm đậm, anh đã dùng thể lục bát mà nối lên cái đa đoan, cái phức tạp của thời hiên đại mà chỉ có thể thơ mới, mới nói hết được. Đây chính là cái thông minh, cái tri thức tính kết nối mà không dễ nhà thơ trẻ nào cũng có được.

Người là ngọn bút thiên thanh/ Quẹt lên một vệt an lành màu tôi”. Màu tôi trong thơ có lẽ chưa ai dùng đây là cái lạ, lâu nay tôi chỉ nghe các nhà thơ trẻ dùng “miền em”. Anh viết: “hàng cây từ thuở đứng im/em về phố cũ rêu tìm cánh bay/ gió ru chiếc lá trên tay/ bỏ rơi giọt nắng cay cay mắt buồn…/Chân trời gần đúng ở xa/ thôi em đừng có thiết tha làm gì/ Hàng cây từ thuở em đi / rêu phong hóa cánh thiên đi tìm bầy/ bây giờ phủ kín nơi đây/ ngày về cọng rễ trật trầy thêm sâu” trong bài “Ngày về” của mây. Lục bát như vậy theo tôi là nhuần nhuyễn, nói chuyện hiện đại lồng trong hình thức truyền thống, nhẹ nhàng bóng bẩy, mà thâm sâu đến mê sảng tôi thích quá câu thơ “chân trời gần đúng ở xa”. Đọc bài này tôi hơi nhớ Bùi Gáng, phải chăng trong Bùi Tiên sinh đã phảng phất cái mê sảng của thời hiện đại. Mê sảng trong thơ không phải dễ gì ai cũng có được, đó là vắt kiệt sức mình cho thơ.

Tôi tin rằng những cái lạ trong Trần Lê Khánh sẽ là những cái hay nếu anh dày công hơn nữa. Tuy nhiên Trần Lê Khánh còn có nơi vụng về, dễ dãi, hay dùng nhiều từ cổ như: sầu, hiu hiu, nhưng anh đã biết đặt chúng đúng vị trí đây cũng là cân não của anh. Tôi không thể nói hết những điều phải nói cho thơ Trần Lê Khánh trong cái mới lạ này. Tôi tin thơ anh còn khởi sắc nhiều hơn trên hành trình phía trước.

XUÂN TRƯỜNG
Nguồn: NVTPHCM

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:




Quang Chuyền - Người suốt đời nhập cuộc thơ

Cánhà thơ nước ta (và có lẽ cả thế giới) nhiều người lơ ngơ trước cuộc đời, trong số đó nhà thơ Quang Chuyền xứng đáng được xếp vào top đầu. Ông có thơ in báo năm 1964 khi đang là giáo sinh trường Trung cấp Sư phạm Việt Bắc. Năm 1965, anh giáo sinh tốt nghiệp, chưa kịp trở thành giáo viên thì nhà thơ Bàn Tài Đoàn - Hội trưởng Hội Văn Nghệ Khu tự trị đã nằng nặc xin anh về công tác tại tạp chí Văn nghệ. Quang Chuyền ở Hội Văn Nghệ khu tự trị Việt Bắc ba năm, năm 1968 chích máu viết đơn tình nguyện vào bộ đội, ở binh chủng Thông tin và tại ngũ cho tới ngày nghỉ hưu.
Nhà thơ Quang Chuyền

Hơn 50 năm trôi qua, hầu như ở đâu, lúc nào ông cũng làm thơ, in thơ, cũng đau đáu trước những vấn đề cuộc sống đặt ra cho thơ. Hai lần (1971, 1985) dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Thơ ông xuất hiện đều trên các báo, tạp chí, các tuyển tập thơ của Hội Nhà văn Việt Nam và các báo khác, nhận nhiều giải thưởng, tên tuổi được nhiều người biết. Vậy mà mãi tới năm 2003, sém 60 tuổi đời, 40 tuổi văn chương ông mới được kết nạp vào Hội. Có sự muộn ấy là do ông “bé cái nhầm”, nghĩ mình cứ viết, đến một lúc nào đấy Hội Nhà văn xem được, sẽ mời vào. Vì thế ông rất lấy làm lạ khi thấy quanh mình nhiều người viết sau, thơ thì cũng thường thường bậc trung mà vào Hội cứ như không, trong khi đó mình dù đã nỗ lực hết mức vẫn không sao lọt được vào con mắt xanh của các nhà tuyển trạch ở Hàn lâm viện 65 Nguyễn Du đáng kính.

Chuyện tình cờ xảy ra, mọi thắc mắc của ông phút chốc sáng tỏ. Năm 2002, Văn nghệ Quân đội kỷ niệm 45 năm ra số đầu tiên. Quang Chuyền được mời dự lễ, bởi ông là cộng tác viên thơ thân thiết của Tạp chí. Đón ông ở sảnh, nhà văn Nguyễn Quốc Trung bảo:

“Anh phải vào Hội đi chứ, cứ ở ngoài mãi thế coi sao tiện?”

“Ờ… vào chứ, vào chứ… nhưng Hội đã mời đâu?” – Quang Chuyền rụt rè.

Nguyễn Quốc Trung ngạc nhiên:

“Lại còn thế nữa. Em nói cho anh biết nhé, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập năm 1957, đến nay tròn 45 năm. Trong 45 năm ấy, trừ 25 Hội viên sáng lập trong Đại hội lần thứ nhất là các nhà văn, nhà thơ Nông Quốc Chấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Anh Thơ, Mộng Sơn, Cầm Biêu… đến nay mới chỉ có một người là nhà thơ Trần Vàng Sao, tác giả “Bài thơ của một người yêu nước mình” được Hội mời (nhưng không vào), số còn lại ai muốn vào cũng phải đảm bảo tiêu chuẩn đã xuất bản ít nhất hai quyển sách văn học, sau đó viết đơn cam kết hoạt động theo tôn chỉ, quy tắc của Hội gửi Ban Tổ chứHội viên để Hội xét. Ngay cả ông Tổng Thư ký kính mến của chúng ta hiện nay là Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng vậy. Vì thế, việc vào Hội với anh bây giờ, tác phẩm thì đủ rồi nhưng phải viết đơn. Đơn phải có hai người giới thiệu. Anh viết đơn đi, nếu không để em viết cho”

“Ồ, thế mà tôi cứ tưởng…”

Quang Chuyền chưng hửng.

Trở về, ông viết đơn ngay. Năm sau, 2003 ông được Hội Nhà văn Việt Nam xét đơn, kết nạp. “Vừa tiểu đăng khoa lại đại đăng khoa”(chả là cùng thời điểm ấy, Quang Chuyền được Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh kết nạp vào Hội). Quang Chuyền mừng lắm. Kể tôi nghe chuyện này, hơn mười năm trôi qua nhà thơ vẫn ngạc nhiên không hiểu sao mình lại “ngu lâu” đến thế. Nghe xong, tôi cười, băn khoăn nếu không có Nguyễn Quốc Trung tình cờ mách cho, không biết đến bây giờ ông đã vào Hội Nhà văn được chưa?

Với thơ là điều quan thiết hàng ngày mà ông còn lơ ngơ vậy, thì trước muôn nẻo đường đời ông có lơ ngơ cũng là sự thường. Vì thế mới có chuyện thời loạn, tính cuộc vuông tròn bộ đội nhiều người chỉ cần về quê một tuần là đủ hoàn tất quy trình ba công đoạn: Xác định đối tượng - yêu - cưới, mà vẫn sinh con đẻ cái, vẫn chung thủy, đợi chờ nhau cho đến ngày đất nước yên bình. Còn anh lính Trần Quang Chuyền và cô giáo Trần Thị Bích Loan, vợ anh sau này vờn nhau những 8 năm, một sự lãng phí hết sức về thời gian và cơ hội. Mới có chuyện năm 1988, thiếu tá Trần Quang Chuyền được Bộ Tư lệnh Thông tin bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 596 Viễn thông đóng ở TP Hồ Chí Minh. Ông vào, đang chân ướt chân ráo thì chi bộ cơ sở nơi ông công tác tổ chức đại hội nhiệm kỳ. Nghĩ mình đường đường Phó Chủ nhiệm, lại là người của Bộ Tư lệnh điều vào, cơ cấu cấp ủy là chuyện đương nhiên. Nhưng kết quả bầu cử, ông bị gạt… cũng làm ông ngơ ngác. Mới có chuyện đổi đất lấy cơ sở hạ tầng hết sức lãng phí như ông đã làm.  Ấy thế mà từ nhỏ, ông đã phải vật lộn kiếm sống.

Những người vào đời sớm thường rất từng trải. Quang Chuyền có từng trải không? Tôi không biết. Nhưng tôi biết ông sinh trong một gia đình nghèo ở vùng đồng trũng tỉnh Vĩnh Phúc, nơi ngã ba hợp lưu của hai con sông Lô và sông Phó Đáy. Cha ông mất năm 1954, khi mới 36 tuổi. Mẹ ông 32 tuổi, ở vậy nuôi con. Một nách nuôi năm con dại với vài sào ruộng khoán, sự khó khăn không thể nói hết. 10 tuổi, Quang Chuyền vào lớp 1, vừa học vừa giúp mẹ làm đồng; đến lớp 6, một hôm mẹ bảo cậu trưởng:

“Con đã lớn, học thế thôi, ở nhà giúp mẹ cho các em đi học!”

Câu nói ấy, cách đấy không lâu Chuyền đã nghe mẹ nói với chị Hạc, chị gái của anh. Buồn, chị trốn mẹ đi làm công nhân đường sắt trên Yên Bái. Bây giờ đến lượt Quang Chuyền. Không, anh sẽ không trốn nhà ra đi như chị mình, nhưng cũng không thể giữa đường đứt gánh. Một ý nghĩ mới mẻ, táo bạo hình thành trong anh. Anh thưa với mẹ:

“Mẹ cho con lên Tuyên Quang, con sẽ tự kiếm sống, đi học.”

Ấy là anh nghĩ tới ông bà ngoại ở thị xã Tuyên Quang. Dịp nghỉ hè năm ngoái anh được mẹ cho lên Tuyên thăm ông bà, vì thế mà bây giờ Tuyên Quang bỗng trở thành miền đất hứa. Thấy mẹ có vẻ chần chừ, anh dấn thêm:

“Con đi, nhà bớt một miệng ăn, mẹ có thể cho ba em tới trường…”

Cuối cùng mẹ đồng ý. Thế là “Người ra đi đầu luôn ngoảnh lại”, hết lớp 6 Quang Chuyền rời nhà, sống tự lập.

Từ hạ nguồn lên thượng nguồn, anh tranh thủ ba tháng hè kiếm ít tiền dằn túi. Ngày ấy ở thị xã Tuyên Quang, nhà cửa (kể cả công sở) hầu hết được làm bằng tre, nứa. Anh xin với ông bác họ, một chủ thầu xây dựng cho làm thợ phụ. Bác đồng ý. Công việc hàng ngày của thợ phụ là vận chuyển tre nứa, đưa rui mè, đòn tay cho thợ chính lợp nhà. Lương thợ chính đồng hai năm xu một ngày công, thợ phụ bằng ½ thợ chính. Dù vậy, với một đứa trẻ choai lần đầu xa nhà, cũng quá tốt. Anh chia tiền ra làm nhiều khoản: ăn uống, mua quần áo, sách vở cho niên học tới. Sau ba tháng quen việc, Quang Chuyền đã có thể leo lên mái nhà lợp lá cọ, tấm gianh như thợ chính.

Hết hè năm ấy Chuyền vào học lớp 7E trường cấp 2 thị xã, vừa tách từ trường Tân Trào ra. Học trò hầu hết là con em Việt kiều từ Tân Đảo về, lớn hơn anh một cái đầu, anh thành người nhỏ nhất lớp.

Thời gian biểu hàng ngày của Chuyền chật kín công việc: sáng lên lớp, chiều làm thợ, buổi tối đi vác thuê tre nứa từ dưới sông lên bến. Chủ nhật thì xách dao vào rừng, chặt nứa thả bè về thị xã Tuyên Quang bán. Một ngày anh chặt được quãng 100 cây nứa bảy, mỗi cây to bằng cổ tay, dài 4m. Tập kết ra bờ sông xong, Chuyền bó nứa lại thành bó, mỗi bó hai mươi cây, ghép làm bè mảng, trên mảng để thêm vài bó củi rồi thả trôi theo sông về thị xã.

“Sông Lô sông ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u…” Không, khi đó cậu trưởng Chuyền chẳng biết gì về một sông Lô hùng tráng trong âm nhạc Văn Cao, hát về những sự kiện trong cuộc kháng chiến chống Pháp xảy ra trên sông cách đấy không lâu. Nhưng nhẩm tính số tiền sẽ thu được, trong lòng cậu có một cái gì đấy cứ muốn ngân lên thành lời. Chịu thương chịu khó, một ngày chủ nhật cậu kiếm đủ tiền chi dùng cho cả tuần. Cứ như vậy, năm học dần trôi qua, Chuyền không có thời gian chơi. Bây giờ mỗi khi nhớ lại, anh vẫn không hình dung nổi làm sao trong hoàn cảnh ấy anh vẫn thuộc bài, làm bài đầy đủ, vẫn là một học sinh trong top đầu của lớp.

Hết lớp 7, tức là hết cấp hai Quang Chuyền thi và đỗ vào trường Sư phạm Việt Bắc. Ngày ấy Cao – Bắc – Lạng – Thái – Hà – Tuyên, sáu tỉnh khu tự trị chỉ có một trường Sư phạm cấp hai này. Đỗ vào trường là một vinh dự lớn của đời anh. Từ đây anh được Nhà nước nuôi ăn học, không còn phải vất vả kiếm sống. Căn cứ kết quả thi, nhà trường xếp Quang Chuyền vào học khối Tự nhiên. Khi các giáo sinh bước vào huấn luyện quân sự, để tạo không khí học đường, Ban Giám hiệu trường phát động một cuộc thi thơ. Với hơn 2.000 tân sinh viên, cuộc thi bề thế lắm. Kết thúc chấm giải, bài thơ “Buổi diễn tập đầu tiên trên thao trường” của anh giáo sinh khối Khoa học Tự nhiên Trần Quang Chuyền được trao giải nhất. Thấy vậy, nhà trường bèn chuyển anh sang học Khối Xã hội. Quang Chuyền như cá gặp nước, học hành ngày một tấn tới. Năm học thứ hai được kết nạp Đảng, được báo cáo kinh nghiệm học tập và phấn vào Đảng khắp toàn trường. Tốt nghiệp đỗ Thủ khoa ngành Khoa học Xã hội, trở thành một “hot boy” trong mắt các giáo sinh nữ.

Tất cả những sự ấy được Quang Chuyền ghi lại trong thơ: “Chiều thành Tuyên/ Nắng kép dần cửa sổ/ Đáy sông Lô nở chùm hoa lửa/ Chim về sải cánh qua soi/ Sông thở bồi hồi/ Giục phà sang Nông Tiến…” Những câu thơ không chỉ được viết từ sự quan sát bình thường, mà bằng sự cảm thấu của một tâm hồn đã gắn bó với vùng đất yêu thương qua nhiều năm tháng.

Đọc thơ Quang Chuyền, lĩnh hội đầy đủ những dở hay, đạt và chưa đạt, ta phải đặt trong văn cảnh chung của nền thơ chống Mỹ. Một nền thơ lấy thành công của cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện của dân tộc làm mục đích sáng tạo. Mọi chất liệu cảm xúc, đề tài, chủ đề đều từ đó mà ra. Với hoàn cảnh xuất thân, kiến thức được trang bị, thời điểm xuất hiện, Quang Chuyền là một ca tiêu biểu của lớp nhà thơ chống Mỹ. Ông nhập cuộc thơ, nhập cuộc kháng chiến ngay từ buổi đầu. Năm 1964, khi Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc, cũng là lúc Quang Chuyền công bố những bài thơ đầu tiên của mình trên báo. Thơ ông viết trong thời kỳ này chủ yếu khai thác vào khía cạnh thơ mộng, rất học trò, thấm đẫm hương kỷ niệm của tuổi thơ thân thuộc: “…Tao với mày cùng làng Gốm sinh ra/ Cái làng nhỏ quanh năm hạn úng/ Bởi vì thế khi hai thằng cầm súng/ Có bệ tì là nỗi khổ xa xưa…” (Gửi bạn nơi xa). Hoặc: “Hát về mảnh đất yêu thương/ Bến sông trải nắng, con đường xanh cây/ Hát về cánh trắng cò bay/ Lô xô đồi đất, vơi đầy đồng chiêm/ Từ trong câu hát lớn lên/ Đời tôi tha thiết một miền quê hương…” (Đất ơi).

Mỹ leo thang chiến tranh, bom đạn lan rộng dần. Đổ nát, thương vong đã vào nhiều thành phố, vào cả Hà Nội. Trên đấnướchẳng còn nơi nàbình yên. Anh bộ đội Quang Chuyền vượt Trường Sơn vào chiến trường. Một lần tới ngã ba làng Nút, phía Tây Quảng Trị. Do lỡ đường, trời tối, anh phải ngủ lại trong một lòng cống đặt ngang dưới đường xe tăng đi. Suốt đêm ấy anh và mấy người đồng đội nằm trong sự đu đưa đánh võng của đạn pháo địch. Tai ù đặc vì tiếng nổ. Sáng ra cửa cống bị đất đá lấp gần hết. Giày, dép, ba lô, vật dùng bị đất cát vùi chôn. Cùng lúc ấy cách cống các anh nằm chừng năm chục mét, mấy đồng đội khác đang gọi nhau, đào bới, thu nhặt xác của ba đồng đội đêm qua bị đạn pháo nổ trúng hầm. Từng chút xương, chút thịt vương vãi trong máu, trong đất, trong cát được thu nhặt lại, đặt vào các tấm tăng. Xong, mọngười moi đất bên cạnh, đặt các bó tăng xuống, lấp đất chôn cất liệsĩMộ chí là những mảnh cây khắc họ, tên từng người: “Cây trẻ rừng già/ Tôi qua năm ấy/ Vết khắc đoạn cây/ Vết gãy/ Ngang câu thơ mình/ Chấm mỗi dấu than/ Lại thấy/ Hiện về gương mặt các anh!...”. Sự kiện trên được Quang Chuyền ghi thành thơ như những dòng nhật ký.

Tiêu biểu cho việc đưa hiện thực chiến trường vào thơ trong giai đoạn này của Quang Chuyền là bài Qua khu rừng trắng, viết ở Quảng Đà năm 1974: “Từng đi qua bao nhiêu rừng xanh/ Mới thấm hết nỗi đau trước vùng rừng trắng/ Mênh mông im lặng/ Cơn gió lùa buốt tim// Nhức nhối mắt nhìn/ Triền miên màu trắng/ Cây thấp, cây cao, cay cong, cây thẳng/ Cùng chung dáng hình/ Những thân cây đầy vết đạn, giơ cành/ Trần trụi lá nên không thành cây nữa// Đâu rồi vị chua lá bứa/ Đâu rồi màu lửa hoa chuối đỏ bừng/ Đâu rồi tiếng chim say lòng rưng rưng/ Đâu dòng suối bâng khuâng cánh bướm?// Chỉ còn đây màu trắng/ màu trắng còn lại đây/ Dáng hình của cây/ Tạc lên nền trời/ tạc vào mặt đất/ Tạc trong lòng người/ Là dấu hỏi treo ngang tầm mắt

Đi qua rừng trắng bao nhiêu con người/ Nhấp nhô ba lô, nòng súng/ Thậm thịch bàn chân bước trong tim lặng/ Nhìn đồng đội đi tôi chợt hiểu điều này/ Áo quần chúng tôi xanh đậm màu cây”.

Bài thơ mở đầu như một bài ký (khổ 1, 2), nhưng chất liệu ký trong đó được tác giả sử dụng như là phương tiện cho sự phát triển của tứ thơ, và ngay ở cả những câu thơ - ký sự này, mỗi câu đều được viết với một sự kìm nén lớn tạo nên một cảm xúc thẩm mỹ cao trong lòng người đọc. Không sa vào kể lể, những liên tưởng tiếp theo (khổ 3, 4) tiếp tục đào sâu cảm xúc, làm thành một mạch ngầm mãnh liệt, tương ứng với hiện thực trần trụi bên ngoài. (Khổ 5) kết thúc bật lên bất ngờ, đem lại cho ta một niềm tin, một hy vọng về chính nghĩa của chúng ta, về sự sống sẽ được chúng ta bảo vệ…

Quang Chuyền làm thơ nhiều thể loại, nhưng sở trường thể lục bát. Lục bát chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp thơ anh. Lật mở mười bảy tập thơ nhà thơ đã xuất bản, tập nào thơ lục bát cũng chiếm số lượng lớn. Hơn thế, anh còn dành hẳn một tập chuyên về lục bát (Bốn câu lục bátNxb VHVNTP Hồ Chí Minh, 2014). Vẫn là hai câu 6 - 8, vẫn B-T-B/ T-T-B ở câu lục. B-T-B-B/ T-B-T-B ở câu bát, lục bát Quang Chuyền mang dấu ấn riêng của hồn thơ anh, không lẫn với những nhà thơ lính khác: một mối tình dang dở, một bến nước thân quen, một con phố nhỏ nơi sơ tán, những người thân, bạn  bè cũ… những gì níu giữ anh với quê nhà, đúng như anh tuyên ngôn: “Câu lục dành dụm cho em/ Câu bát dâng mẹ thắp đèn cúng sao/ Nổi nênh đắng đót ngọt ngào/ Mượn hồn tục ngữ ca dao đi về…”

Đọc lục bát Quang Chuyền, thấy anh không cố ý làm mới thể thơ cũ này bằng những ngắt nhịp, bẻ từng tiết một rồi viết xuống dòng như  thơ tự do. Tức là anh không cố ý làm mới lục bát về hình thức, mà chủ yếu bằng nội dung, bằng sự tinh tế, hóm hỉnh  trong nhìn nhận sự việc, luyện đạt nhân tình. Bằng cách ấy, anh đã ghi được dấu ấn của mình trong lòng người đọc đối với thể thơ truyền thống của dân tộc. Bên cạnh Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh… những nhà thơ cùng trang lứa có nhiều thành công về lục bát, người đọc không thể không nhắc tới Quang Chuyền. Không như  anh tự vịnh: “Tôi từ ít nhớ nhiều quên/ Sân ga lẻ bóng mình lên một tàu…”

NGÔ XUÂN HỘI   
Nguồn: VĂN NGHỆ, 27/2017

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...