Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Nguyễn Vũ Quỳnh - Chép lên khoảng trời: Thao thức một miền quê

Bốn mươi hai bài thơ trong tập thì có tới hơn ba mươi bài thơ Nguyễn Vũ Quỳnh viết về quê hương miền xa thẳm. Nếu kể cả những bài viết về đồng đội, về Trường Sa, Trường Sơn thì anh gửi cả tấm lòng mình cho quê hương, đất nước, cho đồng đội và những người yêu thương
Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh

Tôi đã đọc thơ của Nguyễn Vũ Quỳnh khá nhiều trên các báo, tạp chí và trên mạng. Thế nhưng chỉ rải rác đâu đó, đủ để ấn tượng một giọng thơ, một cái tên đáng nhớ trong làng thơ đông đúc, vui vẻ ở xứ ta. Cho đến khi tập thơ “Chép lên khoảng trời” (Nxb Hội Nhà văn2016) có trên tay thì tôi mới đọc Nguyễn Vũ Quỳnh được đầy đủ, hệ thống và giọng thơ, chất thơ của anh mới thật sự in đậm dấu ấn trong tôi. Thơ anh là sự rung động đẹp, những suy nghĩ đa cảm, bản lĩnh của một người lính đã từng đi qua chiến tranh. Đặc biệt, ở tập thơ này đó là những thao thức về một miền quê, về sự mất mát trong chiến tranh, luôn thường trực hằng đau đáu trong anh.
               
Ngay bài thơ đầu tiên được lấy tên cho cả tập - bài “Chép lên khoảng trời” - chỉ có bốn câu thôi đã nói rõ chủ ý xuyên suốt nội dung của tác giả. “Ta đưa khát vọng thời đương đại/ Về lại bến quê thăm miền cổ tích/ Chép lên khoảng trời xanh màu ngọc bích/ Chuyện ngày xưa, đối thoại bây giờ”. Vâng, ta hãy cùng anh “về lại bến quê” để cùng anh “chép lên khoảng trời” những câu thơ thao thức  miền cổ tích”, ngập tràn những nhung nhớ yêu thương.
               
Nhà thơ Giáp Văn Thạch đã viết: “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi”.  Nguyễn Vũ Quỳnh cũng trong tâm trạng ấy. Quê hương trong anh là “Cánh đồng mẹ tôi”, là “Bên bờ sông quê”, là “Sông Lam ngày trở về”, là “Quán rượu bờ sông”…để rồi “Quá nửa đời một thời son sắt/ Nóng ngọn gió Lào bỏng rát ca dao”. Niềm thương nhớ quê ấy thi thoảng lại ập về trong giấc ngủ, hiển hiện trong cơn mơ. Có tới bốn lần tác giả thảng thốt trong mơ gọi quê như thế. “Bần thần lạc mất tuổi thơ/ Đêm về tìm lại giấc mơ bắt đền”(Giấc mơ bắt đền); “Bước chân lội khắp đồng quê/ Đêm nằm mơ cũng mớ về chợ phiên”(Qua miền ký ức); “Đất chuyển mình rạn nứt cả giấc mơ” (Vô đề); “Đêm mơ trở lại sông quê/ Trong bâng khuâng một lối về tuổi thơ/ Như người khát gặp rừng mơ/ Chảy qua năm tháng bến bờ sông ơi” (Bên bờ sông quê).
               
Quê hương tuổi thơ anh nghèo lắm. Cái thời đạn bom, bao cấp, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược ấy, khiến cho cả nước nơi nào cũng vậy, đều phải căng mình ra chống trọi cùng thiên nhiên, giặc giã. Hãy xem anh tả cái nghèo thuở ấy.
               
Làng tôi thuở ấy quê mùa/ Cánh cò hoang hoải cáy cua cũng gầy/ Hạn khô như vắt cổ chày/ Dòng kênh cạn bụng tháng ngày long đong” (Cánh đồng mẹ tôi). Ví “hạn khô như vắt cổ chày”, “dòng kênh cạn bụng” thì thật là cao thủ. Rồi thì “Bếp nhà một góc vại dưa/ Con rô, con diếc đồng trưa chợ làng/ Bầu trời thiêu cháy cỏ hoang/ Vẫn vang vọng tiếng dô khoan bến Sòng” (Cánh đồng mẹ tôi). Nghèo đấy, lam lũ tằn tiệm đấy nhưng vẫn yêu đời, vẫn lạc quan ca hát. Và hình ảnh này thật đẹp: “Cái ngày cây lúa trổ bông/ Lời ru gặt giữa cánh đồng mẹ tôi”.
               
Ai đã sống qua “Cái thời đói rách triền miên/ Cá lòng tong vẫn lo tiền đủ không?” chắc hẳn sẽ thấu hiểu cái “Nghèo chi rách cả đường làng/ Cá lẹp, rau má, khoai lang bốn mùa” của Nguyễn Vũ Quỳnh. Tả cái nghèo “rách cả đường làng” khéo chỉ có Nguyễn Vũ Quỳnh? Đọc thấy ngày xưa gợn ghê lắm, như te tua, tơ tướp, xác xơ ở ngay trước mặt.

Này đây “Bếp chiều con tép bờ sông/ Chạy qua hành mỡ ngoài đồng cũng thơm/ Quê thời bếp núc rạ rơm/ Mặn trên lưng mẹ nồi cơm độn đầy”. Ngày ấy cơm trộn quanh năm, có cái ăn no bụng là tốt rồi. Chỉ trong câu “Chạy qua hành mỡ ngoài đồng cũng thơm” thôi, cũng đủ thấy cái mùi hành mỡ ngày nghèo khó thơm tho đến thế nào rồi. Trong bản lý lịch khai vào Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh hình như ai cũng có đoạn “thiếu ăn 3, 4 tháng trong năm”. Chả thế mà “Cái thời bánh chưng, bánh dầy/ Tứa trong nước miếng luống cày đồng xa/ Những ngày giáp hạt tháng ba/ Củ dong thì sượng, cây cà đang hoa” (Qua miền ký ức). Hay “Hanh hao sương lạnh gió lùa/ Vàng hoe cả mắt những trưa học về” (Qua miền ký ức). Cơ khổ. Thèm đến tứa nước miếng. Đói đến vàng cả mắt. Đói thèm đến thế là cùng. Thì thế bây giờ mới nhớ.

Và đây nữa: “Thân cò chới với bờ kênh/ Tìm con tép vặt buồn tênh đồng chiều (Bên đoạn sông cong). “Chới với”, “buồn tênh” -  những tính từ Nguyễn Vũ Quỳnh chọn lựa và dùng thật đắc địa. Nghệ thuật câu chữ chính là chỗ này đây. Không cần nhiều từ, nhiều lời cũng đã bật lên cái gian khổ, cái buồn rỗng của cái đói nghèo quê hương ngày ấy.
Tập thơ “Chép lên khoảng trời” của Nguyễn Vũ Quỳnh

Viết, nhớ về cái đói, cái nghèo của quê hương không phải để bi lụy mà chính là tác giả nhắc nhớ cho chúng ta đã có một thời như thế. Từ trong nghèo đói, khổ đau ấy, người ta đã vươn lên, ta đã chiến thắng để có cuộc sống như ngày hôm nay. Xin ai đó chớ vội quên đi một thời cha anh ta đã anh dũng kiên cường vượt qua như thế.

Cái nghèo được ghi lại trong miền cổ tích ấy dâng tràn kỷ niệm mà không bi lụy chút nào bởi ý chí vượt qua đi đến hôm nay. Và đây là những gam màu sáng tươi, những kỷ niệm đẹp về quê hương của Nguyễn Vũ Quỳnh. “Cánh cò lả lướt cánh đồng/ Trời như xõa nắng, mây lồng bóng cây/ Trâu đằm như thể ngủ say/ Tiếng con chim sáo hót lay cánh diều”… “Bướm vàng xoay gió bờ ao/ Bông hoa hồng thắm cứ xao xuyến nhìn”… “Đình làng chín rặng mâm xôi/ Dòng sông vỗ sóng mây trôi dập dềnh/ Mặt trời đợi dưới dòng kênh/ Chờ tôi về giữa bồng bềnh tuổi thơ” (Trở về ngày xưa). Khung cảnh thật thanh bình, lãnh mạn. Cánh cò, trời, mây, cây, trâu, chim, bướm, sông, tôi… với “lả lướt”, “xõa nắng”, “lồng bóng”, “ngủ say”, “xoay gió”, “vỗ sóng”, “dập dềnh”… thật đa sắc, đa thanh, sinh động quá chừng. Đặc biệt “Mặt trời đợi dưới dòng kênh/ Chờ tôi về với bồng bềnh tuổi thơ” thì thật thi vị và lãng mạn. Quê thế mới là quê chứ.

Hình ảnh thật đẹp, chỉ thôn quê mới có đã được tác giả vẽ lên bằng những câu thơ: “Thương những bắp chân nõn nà con gái/ Vội vàng chao giữa cầu ao”; “Thơm hương cơm nếp đầu mùa/ Khói lam chiều bảng lảng cổng thềm xưa” (Trả lại cánh đồng)Đầu hai thứ tóc, sống giữa thị thành mấy chục năm rồi mà hình ảnh ấy còn lưu giữ, lắng đọng mãi trong lòng tác giả. Phải đau đáu với làng quê lắm lắm, mới có được những hình ảnh nên thơ như thế.

Nguyễn Vũ Quỳnh “Đã lâu rồi xa bếp lửa làng quê/ Nghe tiếng gió chợt tim mình bối rối”(Nhớ) để rồi “Quê nhà quả khế/ còn chua/ Rau mồng tơi với cáy cua/ cá thèn/ Sấu bây giờ chín/ chưa em/ Tự dưng anh thấy khát thèm/ ngoài quê” (Tản mạn quê nhà). Và đây, hình ảnh thật đẹp nữa lại hiện ra trong thơ anh: “Cánh cò lửa bay qua miền nắng cháy/ Hoa sim chiều tím ngát cả đồi xanh” (Thức một vùng quê). “Lửa”, “cháy”, “chiều tím”, “đồi xanh”… vừa rừng rực vừa man mác, rất dữ dội nhưng cũng rất đằm sâu, lắng đọng.

Như bao trai làng khác, Nguyễn Vũ Quỳnh cũng để lại quê nhà những mối tình thật thơ mộng lãng mạn. “Ven đường ngày ấy cỏ may/ Còn rơi rớt gió những ngày/ lặng im/ Gần nơi ấy giữa/ đồi sim/ Là nơi đánh mất, đi tìm/ ngày xưa” (Tìm xưa). Chắc phải kỷ niệm nặng sâu lắm ở nơi ấy mới có những câu thơ khắc khoải như thế? Cỏ may ven đường găm vào ký ức để những ngày rơi rớt gió bất chợt nhớ, bất chợt thương cho tác giả cứ mải miết, cứ lặng im đi tìm “ngày xưa” đã vuột mất? Cả cô thôn nữ kia nữa, chắc cũng chông chênh, khắc khoải cùng anh? Là nơi đánh mất/ đi tìm/ ngày xưa. Mất cái gì chỉ họ mới hiểu thôi. Ôi mối tình đầu thôn quê! Sao mà nhớ, sao mà thương đến thế!

Mang mối tình đầu trong tim tha hương, đôi lúc Nguyễn Vũ Quỳnh vẫn xoáy lên trong tim mình câu hỏi “Tôi về hẹn với ngày mai/ Tìm trong xa thẳm chờ ai một mình?” (Còn không). Anh đã “Ra đi mang cả một thời/ Tình người, tình đất và lời quê hương” để khi nghe tiếng “Gió đang mắc kẹt bờ tre/ Trời xanh nợ một lời thề bão giông/ Còn không quán rượu bờ sông/ Mà sao say giữa cánh đồng giêng hai” (Còn không). Gió mắc kẹt bờ tre, bờ sông, quán rượu những cái cớ để tác giả nói về món nợ lớn - nợ lời thề bão giông. Thế nên, dẫu ở giữa cánh đồng giêng hai, dẫu quán rượu không còn nữa thì Nguyễn Vũ Quỳnh vẫn say cái say của thuở yêu đầu. Bởi vì “Màu thời gian ngỡ lãng quên/ Ngờ đâu trẻ lại trong miền xa xăm” (Trong miền xa xăm). Để rồi “Bắt đền nỗi nhớ/ của nhau/ Dòng sông khát nắng/ tím màu hoàng hôn/ Mấy ai biết được/ dại khôn/ Có ai hôn nửa/ nụ hôn bao giờ” (Giấc mơ bắt đền). Thì thế. Tôi cũng đã viết: “Nụ hôn đầu đời vụng dại/ em trao tôi còn ngọt đến bây giờ”. Và hôm nay bắt gặp nụ hôn của Nguyễn Vũ Quỳnh giữa khôn dại tình đầu cũng không thể nói đó là nửa nụ hôn được. Đã đành là thế rồi. Vậy thì cứ bắt đền nhau đi, hỡi người xưa yêu dấu!

Đau đáu nhớ quê hương, nặng lòng cùng hoài niệm, thế nên khi anh trở về quê “Nghe tiếng chim bắt cô trói cột/ Mà sâu lắng bần thần”. Cảnh cũ, người xưa đã không còn nữa. “Cây thị già cũng bỏ ta đi/ Khi ruộng đồng bê tông cốt thép/ Nóng khô đốt cháy chân trời/ Tiếng chim như bất ngờ tiếng nấc”. Rồi “Những con đường thưa mùa rơm rạ/ Khói bếp chiều cũng tắt lịm mái quê/ Cây lá vắng/ Còn chỗ nào chân chim tìm đậu?” (Góc trời quê). Thời buổi công nghiệp hóa, làng quê cũng cuốn trong cơn lốc chuyển mình như thế. Xô bồ, ngổn ngang, gấp gáp. Sắt thép, bê tông, lầu cao phố xá thay cho mái rạ mái rơm. Mừng đấy nhưng cũng trở trăn lắm đấy. Bao kỷ niệm ngày xưa đã phải tìm trong ký ức. Hiện thực cũ không còn nên càng chông chênh ưu tư hơn. Đúng là đem “Chuyện ngày xưa đối thoại với bây giờ” trước cuộc hành trình đô thị hóa đến chóng mặt mà ngỡ ngàng, mà xa xót. Phải chăng “Gió đang mắc kẹt bờ tre/ Trời xanh nợ một lời thề bão giông”?

Bốn mươi hai bài thơ trong tập thì có tới hơn ba mươi bài thơ Nguyễn Vũ Quỳnh viết về quê hương miền xa thẳm. Nếu kể cả những bài viết về đồng đội, về Trường Sa, Trường Sơn thì anh gửi cả tấm lòng mình cho quê hương, đất nước, cho đồng đội và những người yêu thươngAnh viết: “Đồng đội ơi chúng ta/ Chẳng đứa nào mà không có tên/ Khi điểm danh đứa nào cũng có/ Lúc ngã xuống trong bom rơi đạn nổ/ Trên mộ phần tên người có người không” (Đồng đội ơi). Viết về sự hi sinh mất mất của đồng đội, nỗi đau như thế, mấy ai viết xúc động đến như vậy. Thơ anh tung tẩy nhiều thể loại. Lục bát nhuyễn, tứ chặt, ý hay. Có rất nhiều câu găm vào lòng người đọc. Các thể thơ tự do, năm chữ anh sử dụng thành thạo, biến hóa, chuyển tải được tư tưởng và tình cảm của mình. Anh không theo hướng cách tân, hậu hiện đại, không cố tình làm xiếc câu chữ, đánh đố người đọc. Chính vì thế mà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh dân giã, giàu nhạc điệu, chất chứa tình đời, tình người. Đọc anh thấy hồn quê hiển hiện, lâng lâng trên từng con chữ. Tuy nhiên, có đôi ba chỗ anh gieo vần lục bát hơi bị gần nhau nên chưa thật đã lắm. Đó là các bài Ngày ấy (vần “ay”), Qua miền ký ức (vần “a”), Cánh đồng mẹ tôi (vần “òng, ồng). Giá anh chau chuốt thêm ít nữa thì tuyệt.

Gấp tập thơ lại, tôi vẫn bị ám ảnh, hút hồn với những con chữ của Nguyễn Vũ Quỳnh. Anh đã dắt đưa tôi về với một miền quê ắp đầy kỷ niệm để thao thức cùng anh “chép lên khoảng trời” bốn mươi hai thi phẩm cuộc đời. “Chiều nay trở lại đường quê/ Bánh xe quen rẽ lối về ngày xưa”. Vâng, tôi đang cùng anh rẽ lối về ngày xưa đây thi sĩ ạ. Xin chúc mừng anh với thành công của tập thơ này và tiếp tục mong chờ những tập thơ mới tưng bừng hơn nữa.

ĐỖ XUÂN THU

______________________

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh tên thật là Nguyễn Như Quỳnh sinh ngày 12.9.1952 tại Tùng Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hoá. Ông nhập ngũ tháng 9.1971, là Thiếu tá QĐNDVN, ra quân 1992.

Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường đai học Tổng hợp Hà Nội và tốt nghịêp các trường sĩ quan chính trị, tuyên huấn trung ương. Ông có hơn10 năm làm sĩ quan chính trị và hơn 20 năm là nhà báo.

Hiện nay Nguyễn Vũ Quỳnh thường trú tại 1/12/16 đường D3, quận Bình thạnh Thành phố Hồ Chí Minh.

Uỷ viên Ban Kiểm tra Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh khoá VII (2015 - 2020).

Tác phẩm đã xuất bản:

Khúc hát xa quê - thơ, NXB Hội Nhà văn 2006.
Hai mươi năm sau - tập truyện ngắn, NXB Văn Hóa Thông Tin 2008.
Ru lời yêu em - thơ, NXB Thanh Niên 2011.
Đối thoại với thời gian - thơ, NXB Hội Nhà văn 2013.
- Chép lên khoảng trời - thơ, NXB Hội Nhà văn 2017


Theo NVTPHCM


Trần Lê Sơn Ý: Những công-án-thi-ca không giải đáp?

Ở lãnh vực VHNT, tôi nhận thấy, dường như trước một hiện tượng hay, một phong trào, dư luận đám đông thường chẻ đôi: Bênh / chống.

Cũng thế, khi những cây bút trẻ trưởng thành sau biến cố tháng 4-1975, rầm rộ lên đường với chủ tâm chứng tỏ sự hiện diện, hoặc cho thấy “đẳng cấp” của mình; qua nhiều chọn lựa phong cách chữ, nghĩa khác nhau - Khiến một số người đọc hoang mang, ngơ ngác trước những xu hướng như:

- Không ngần ngại dấn sâu vào lãnh vực dục tính...

- “Lên đồng chữ, nghĩa” với những chủ đề lớn như sinh, tử, triết lý hư vô... (Hoặc)

- Lý luận, biện giải về tình yêu, đời thường với những từ ngữ “cao siêu” tới mức không ai hiểu, nhằm phô diễn kiến thức “tự đồng thiếp” của họ...

Trước những hiện tượng này, dư luận thường chẻ đôi: Một số hưởng ứng, ủng hộ. Cho rằng đó là... “cách tân” là... “đổi mới”. Là ngang tầm... hiện đại. Số khác lắc đầu! Ngao ngán! Cho là vô nghĩa. Hoặc, chỉ cho thấy nỗ lực “phá sản” chữ, nghĩa một cách đáng lo ngại!

Đứng ngoài, rất xa mấy xu hướng trên, may mắn thay, người đọc vẫn gặp được những dòng thơ trong, lành của những cây bút thuộc thế hệ trưởng thành sau biến cố tháng 4-1975. Có nhiều người rất trẻ. Họ thuộc thế hệ sinh sau tháng 4-1975.

Trong số những người trẻ làm thơ, viết văn, thuộc thế hệ vừa kể, tôi thấy có Trần Lê Sơn Ý, sinh năm 1977, tác giả thi phẩm “Cơn ngạt thở tình cờ”. Người được nhà thơ Ý Nhi cho là có những bài thơ “rất trong” và, “rất tươi”.
Nhà thơ Trần Lê Sơn Ý

 Không “đồng thiếp chữ, nghĩa” để chứng tỏ “đẳng cấp” mà, chỉ bằng vào những cảm xúc ghi nhận được từ đời thường, nhưng cõi-giới thi ca của Trần Lê Sơn Ý không vì thế mà không mới. Lạ. Thí dụ trong bài “Hẹn nhau một nụ cười”, Trần Lê Sơn Ý viết:

 “Hẹn nhau một nụ cười 

Giữa những làn xe
Ào ạt
Nụ cười không dừng lại mà trôi
Người đi xuôi ngược

Hẹn nhau một cái gật đầu
Mỗi lần đi ngang ô cửa
Bao giờ cũng tưởng tượng
Hoa tầm xuân giăng biếc góc đường

Hẹn nhau một cơn mưa xuân
Chiếc dù đỏ chói chang chặn bao lời bất tận
Bài hát đành là giai điệu nằm yên
Đợi...”

Và:

“Nụ cười thành đoá hoa bất thần
Nở giữa đi về dào dạt
Tôi cắm trong bình tôi
Ngày mai
Mùa còn đến kịp.”

Ba câu cuối, ở đoạn thơ trên, cho người đọc “đóa hoa bất thần” được “Tôi cắm trong bình tôi / Ngày mai / Mùa còn đến kịp.”

Hoặc mấy câu trong bài “Đồng thoại”, Trần Lê Sơn Ý viết:

“...Tôi đã hát những đêm đông xám buốt, những trưa vàng
Hát trên đầu ngọn sóng, hát dưới đồi sỏi xanh
Hát bằng nỗi sợ hãi của chú ve
Dưới sân khấu chỉ có mùa hè mặc áo đen làm thính giả...” 

Tôi nghĩ, không cần phải có một khả năng liên tưởng mạnh mẽ gì, chỉ với chút lắng tâm, nghiêng hồn, ta cũng có thể thấy một loạt hình ảnh và, những cảm thức đậm thi tính tương tác chặt chẽ với nhau, như một nối kết bất khả chia, lìa - - Giữa “chú ve, nỗi sợ hãi, sân khấu (mùa hè) thính giả” và, bất ngờ hình ảnh thật mới mẻ: “mùa hè mặc áo đen”...

(Thính giả nào mặc áo đen trong đoạn thơ này (?) Nếu không phải chính là chú ve lắng nghe tiếng hát mình dội lại niềm cô tịch, mang tên “nỗi sợ hãi”?)

Trước đó, Trần Lê Sơn Ý cũng cho người đọc cảm thức riêng, bất ngờ của cô, khi:

“Chỉ xin làm con phù du đơn độc
Một lần bay chạm mặt bình minh

Không “đồng thiếp chữ, nghĩa” để chứng tỏ “đẳng cấp”, không khai thác dục tính để chứng tỏ... “bản lĩnh”... thời thượng như một số những cây bút trẻ khác, Trần Lê Sơn Ý chỉ bằng vào những cảm xúc ghi nhận được từ đời thường... Nhưng cõi-giới thi ca của Trần Lê Sơn Ý, tự thân “rất trong”  “rất tươi”, đã mang lại cho người đọc một thổ-ngơi khác. Chúng như những cơn gió đưa hơi mát và, chút heo may về giữa đất trời phỏng, rẫy nắng hạn. Chúng như những trận mưa êm đềm, lay tỉnh ta thức giấc giữa ngột ngạt đêm; để thấy mình tách thoát khỏi mạch chảy dằn xóc xu hướng “thức ăn nhanh”, “mì ăn liền” hiện nay:

Em nhận ra niềm vui kia mang gương mặt của nỗi buồn
Và từ đó nỗi buồn cứ theo em mỗi lần bay lên và rơi xuống”

(Trích “Bông tuyết”)
Hoặc:

“Này đôi mắt của bình nguyên
Đừng giấu trong veo trên đầu ngọn cỏ
Tôi sợ mặt trời lên 
Này đôi mắt của bình nguyên
Đừng giấu giọng nói của mình trong mắt lồ ô
Tôi làm sao tìm nổi
Chẳng lẽ ngàn năm ngồi đợi gió mơ hồ 
Này đôi mắt của bình nguyên
Đừng giấu đỏ hoe vào sau bờm ngựa
Hãy cứ nhìn tôi như lá cỏ ấy
Cho ngựa ăn đi rồi dắt chúng ra về”

(Trích “Đôi mắt bình nguyên”).

Tuy nhiên, một khía cạnh khác trong thơ Trần Lê Sơn Ý khiến tôi chú ý nhiều nhất, là những câu thơ như những câu hỏi bình thường, nhưng gợi mở của chúng lại dẫn đắt tôi tới liên tưởng của những... “công án”. Tôi muốn gọi đó là “công-án-thơ”, trong cõi-giới thi ca Trần Lê Sơn Ý.

Thí dụ trong bài thơ “Gọi mưa”, Trần Lê Sơn Ý viết:

“Đôi mắt em làm tôi nhớ tiếng chuông chùa”

Trước nhất, với tôi, câu thơ này, như cánh cửa mở rộng, thênh thang cho mỗi người một cảm nhận riêng - - Một câu thơ hôm nay (cũng như) hôm qua, ít có.

Và, chính tính thênh thang, mở rộng của câu thơ, đem đến cho tôi câu hỏi: Tiếng chuông chùa nào?

- Tiếng chuông chùa gợi niềm an lạc?
-Tiếng chuông chùa phổ độ chúng sinh?
-Tiếng chuông chùa chiêu hồn quỷ đói?
- Tiếng chuông chùa lưu ý ta cuộc đời vô thường? (Hay)
- Tiếng chuông chùa nhắc nhở ta buông bỏ “ngã chấp”?
... 

Cũng thế, chỉ cách hai câu, Trần Lê Sơn Ý viết:

Và tiếng hát em sẽ trở lại
Những ngôi mộ trên cao cũng bớt u buồn
”...

Trong tôi, lại dấy lên những câu hỏi: Tiếng hát nào?

- Tiếng hát chia sẻ nỗi buồn, nhập được vào những ngôi mộ?
-Tiếng hát là chiếc cầu nối âm, dương?
-Tiếng hát thâu ngắn khoảng cách giữa hiện thực và cõi u linh?
- Tiếng hát đem ánh sáng bình minh vào sâu hầm mộ tối? (Hay)
- Tiếng hát như những lời ru chân thiết, dành cho những lãng quên, vốn là bản chất lạnh lùng, tàn khốc của thời gian?

Tôi không biết. Tôi không có câu trả lời rốt ráo. Ngay Trần Lê Sơn Ý, tôi nghĩ, cũng sẽ không có câu trả lời rốt ráo cho “công-án-thơ” của mình.

Với tôi, đó là những câu thơ hiếm hoi. Những câu-thơ-mở tới những tầng trời khác.

Bằng vào tự tin khi tách biệt mình khỏi những xu hướng “đồng thiếp”; bằng vào những “công-án”, tình cờ hiện ra như những điểm son trong thơ của mình, tôi cho đó là những dấu ấn mạnh mẽ nhất trong cõi-giới thơ Trần Lê Sơn Ý vậy.

DU TỬ LÊ
Garden Grove, June 2015
Nguồn: dutule.com


TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Thứ Tư, 19 tháng 12, 2018

Nhà văn Lê Văn Thảo trong mắt bạn nghề, bạn đọc

Dù với danh hiệu gì, nhà văn Lê Văn Thảo trong mắt những người trong nghề và bạn đọc là nhà văn luôn trăn trở với thân phận con người, trong chiến tranh và cả trong hoà bình, mà tình đồng đội, nghĩa đồng bào là mối tình lớn nhất mà ông có được trong những năm tháng nhọc nhằn của cuộc đời người viết văn luôn ưu thời mẫn thế.
Nhà văn Lê Văn Thảo

Vào bưng biền từ lúc tuổi nhỏ ở vùng hạ miền Đông Nam bộ cùng với gia đình trong cuộc kháng chiến 1 (1945-1954), nửa chừng về thành (thị xã Long Xuyên, An Giang) để theo học bậc trung học, chàng thanh niên Dương Ngọc Huy (tên khai sinh của nhà văn Lê Văn Thảo) sau khi tốt nghiệp Tú tài 2 đã khăn gói lên đường rời quê tạm An Giang để lên Sài Gòn làm chàng sinh viên khoa Toán Lý trường Đại học Khoa học Sài Gòn.

Năm 1962, khi nhận được tin nhắn của người cha là nhà giáo Dương Văn Diêu (cán bộ giáo dục tập kết, trở về Nam khá sớm, lúc đó đang là Trưởng Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục) từ trong rừng Tây Ninh gởi ra, anh đã thoát ly thành phố, rời xa ánh đèn phố thị, bước vào cuộc chiến đấu mới với nhiều cam go và thử thách.

Lên rừng, chàng thanh niên phố thị Dương Ngọc Huy, bằng vốn học vấn của mình lại tiếp bước con đường của cha, làm chàng giáo trẻ trong những làng giải phóng vừa mới hình thành trong chiến khu. Khi lực lượng giải phóng bắt đầu phát triển mạnh với những đơn vị cấp trung đoàn, sư đoàn chủ lực được hình thành trên khắp chiến trường miền Đông, thì chàng thầy giáo trẻ đã sớm rời bục giảng để theo bước những đơn vị chủ lực Miền tham gia các chiến dịch phản công và tiến công. Anh trở thành người viết văn trẻ của lực lượng viết văn giải phóng đang dần hình thành khi có sự trở về của các nhà văn tập kết như Nguyễn Thi, Anh Đức, Thanh Giang, Võ Trần Nhã...

Có thể nói văn nghiệp của nhà văn Lê Văn Thảo khởi đi từ những năm tháng nhọc nhằn trong nhưng ngày hành quân chiến đấu cùng quân chủ lực giải phóng khi các đơn vị ấy hình thành trong nửa cuối năm 1965 bằng những bút ký chiến tranh mang đậm không khí chiến trường. Những chuyến đi không ngừng nghỉ suốt những cánh rừng miền Đông và ruộng đồng miền Đồng Tháp  không những chỉ tạo thêm sự vững vàng của chàng thanh niên phố thị  giữa bưng biền kháng chiến mà còn là nguồn tư liệu vô tận để khi đất nước hoà bình thống nhất, những trang văn về cuộc sống và chiến đấu của con người trong chiến tranh được hình thành ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Có thể nói, trong hơn 10 năm đi và viết trong vùng giải phóng và ngay trên các chiến trường sôi động, kể cả chiến trường đô thị Sài Gòn năm 1968, đã biến Lê Văn Thảo thành nhà văn có nhiều kỷ niệm và kinh nghiệm chiến trường nhất trong các nhà văn từ trong rừng ra.

Sau tháng 4.1975, trên cương vị mới là cán bộ biên tập văn xuôi tuần báo Văn nghệ giải phóng rồi tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh những trang viết của chính mình, nhà văn còn là người với đôi mắt tinh đời và một tấm lòng không đố kỵ đã phát hiện, bồi dưỡng nhiều cây bút trẻ trong vùng mới giải phóng bằng việc thường xuyên giới thiệu những tác phẩm đầu tay của họ cho công chúng độc giả. Có thể nói, tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm tháng cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 thế kỷ 20 chính là vườn ươm, là nơi tạo giống để hình thành nên đội ngũ những người viết trẻ sau năm 1975 ở vùng đất phương Nam đầy nắng gió nầy.

Là một nhà văn có tâm hồn tươi trẻ, lại chịu xông xáo vào những nơi mũi nhọn của cuộc sống mới, anh thường xuyên tham gia tổ chức những chuyến đi thực tế về nông thôn, biên giới, hải đảo. Chính những chuyến đi đó là cơ hội để anh gần gũi thêm với các bạn viết trẻ, gợi ý những đề tài và truyền đạt những kinh nghiệm nghề nghiệp viết lách với những người mới vào nghề.

Đến lúc nghỉ hưu, bằng sự tín nhiệm của những người trong nghề, anh lại được bầu làm lãnh đạo của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh hai nhiệm kỳ liền và một kỳ làm phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Chức sắc đối với nhà văn là chuyện phải có để có cớ làm việc chứ chẳng phải là chuyện để hưởng lợi lộc gì nên những chuyến đi, liên tiếp những chuyến đi là niềm mong mỏi lớn nhất của nhà văn. Như ông đã từng tâm sự trong suy nghĩ về nghề văn: Bản tính chậm lụt, chuyện trước mắt không mấy khi kịp hiểu ra, thường viết về những kỷ niệm, những hồi ức xưa cũ... Sợ chốn cao sang giới quan chức quyền quý. Dành sức viết về những người bình thường, những người có số phận hẩm hiu bất hạnh. Tình đồng đội đồng chí là đề tài yêu thích. Cố tránh sự tô vẽ, làm dáng. Tránh ồn ào, giáo huấn. Viết giản dị, gần gũi với nhân dân quần chúng, dành nhiều khoảng trống cho người đọc, đó là phương châm...

Có lẽ từ phương châm nầy, nên nhìn lại, có thể ông là người đi nhiều, viết ít. Trong sự nghiệp hơn 50 năm cầm bút viết văn của ông (kể từ năm 1965, khi ông bắt đầu tham gia các chiến dịch của quân giải phóng với tư cách người làm văn nghệ), thì 10 tập truyện ngắn không dày và 5 tiểu thuyết mỏng là cái gia sản khá khiêm nhường. Nhưng kể từ tập truyện ngắn Đêm Tháp Mười được xuất bản năm 1972 bởi Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng, là cái vốn căn bản để ông trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1975, thì tập truyện ngắn cuối cùng Nhỏ con, có chịu thôi đi không? (Tập truyện thứ 10, xuất bản năm 2016 bởi nhà xuất bản Văn hoá Văn nghệ) quả là chẳng nhiều nhặng gì. Ông được xem là người viết truyện ngắn có phong cách riêng bởi cái chất Nam bộ và kiểu tư duy thực tế, cộng thêm cách dẫn dắt ngẫu hứng cũng làm cho người đọc thêm những bất ngờ thú vị.

Có thể nói, ông là nhà văn của truyện ngắn, mà Ông cá hô là một truyện ngắn nổi bật, nhưng tiểu thuyết mới là những thành tựu đáng ghi nhận của ông. Chỉ với 5 tiểu thuyết được công bố thôi mà ông đã 2 lần được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là tiểu thuyết Một ngày và một đời (năm 1998) và tiểu thuyết Cơn giông (năm 2003). Cuốn đầu là sự chiêm nghiệm của con người sau chiến tranh về một thời kỳ ác liệt - chiến dịch Mậu Thân năm 1968 ở Sài Gòn và cuốn sau là cuộc sống và con người hậu chiến ở một vùng miền Tây Nam bộ sau năm 1975.

Ghi nhận những công lao đóng góp của ông trong nền văn học nước nhà, năm 2007 ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật và 5 năm sau (2012) là Giải thưởng Hồ Chí Minh cũng về lãnh vực trên.

Dù với danh hiệu gì, nhà văn Lê Văn Thảo trong mắt những người trong nghề và bạn đọc là nhà văn luôn trăn trở với thân phận con người, trong chiến tranh và cả trong hoà bình, mà tình đồng đội, nghĩa đồng bào là mối tình lớn nhất mà ông có được trong những năm tháng nhọc nhằn của cuộc đời người viết văn luôn ưu thời mẫn thế.

Đêm 22.10.2016
PHẠM SỸ SÁU
Nguồn: NVTPHCM


Thứ Ba, 18 tháng 12, 2018

Gia hát cho đời xanh khát khao

Homer, người kể chuyện vĩ đại năm xưa từng mở đầu thiên trường ca Odyssey bằng lời cầu khấn thanh tao: “Nàng thơ ơi, hãy hát lên…”. Mỗi nhà thơ kể cho chúng ta nghe một câu chuyện về chuyến phiêu lưu của cõi tinh thần.
Nhà thơ La Mai Thi Gia

Thơ Thi Gia là những câu chuyện thầm thì không kết thúc trong trái tim một người nữ sẵn yêu và sẵn thơ:

Gia ơi, chừ em hát
Lời ngọt lành như mưa
Gia ơi, chừ em khóc
Thương ngày mình xuân xưa

(Gia ơi, đời xanh đấy!)

Chỉ là một câu chuyện dài về nỗi niềm xanh tươi của tuổi xanh tươi. Có mấy ai nuôi được màu xanh ấy, trong chính mình và trong cách nhìn đời. Bởi vậy, Thi Gia mới tự nhắc mình, rằng đời xanh đấy! Như chúng ta thầm nhắc nhau bằng câu hỏi: Đời vẫn xanh ư?...

Đời xanh, không phải vì đời rất vui, mà vì đời rất đáng sống!

Trong “cõi xanh” của Thi Gia, chúng ta đọc thấy một nguồn cảm hứng đầy đặn về tình ruột thịt, tình nhân gian, về tình ân ái, tình đa đoan… Mỗi bài thơ là một thiên truyện tí hon nhưng đầy sức gợi về nỗi phập phồng và hân hoan của con người trước những vui buồn, tai ương và hạnh phúc.

Nhà thơ chọn cho mình một giọng riêng ở mỗi thứ tình.

Trong tình máu mủ ruột rà, thơ Gia bình lặng và giản dị với điểm nhìn thơ dại về gia đình, về quê hương cố lý.  Đó là nỗi ngơ ngác chân thành: “Đỏ mắt con tìm một câu chúc miền Trung” trong buổi sinh nhật xa quê (Tiếng quê), là lời mời tự nhiên “như không” mà rất thiết tha: “Quê mình đây nè bạn - Bữa mô buồn ghé chơi - Nắng hè trong leo lẻo - Biển còn xanh hơn trời” (Biết răng chừ quê ơi), là kỷ niệm dịu dàng sâu lắng về ánh mắt cha ngày con gái lấy chồng: “Vào nhà đi cha ơi thôi đừng đợi nữa! - Con gái cha đã lớn mất rồi - Đã biết… sống trên đời ai cũng phải có đôi” (Con gái theo chồng), là khúc tiêu dao ám ảnh dành cho kẻ tha phương:

Ta ra đi hề
giữa bốn bề gió lộng
Nhưng trái tim ta hề
đã ở lại quê hương
(…)
Quê cha đất mẹ
ai ra đi mà không nhớ không thương?
Ta ra đi mà mong quay trở lại
Về với mẹ ta, cha ta, Tam Kỳ ta, Quảng Nam ta hề
Quê ơi, quê ơi!
Lũy thừa nỗi nhớ
Dâng lên ngập trời!

Bài thơ Khúc ly quê được viết từ hơn mười năm trước đã bồi đắp cho thơ Gia một tâm tình nồng nàn có chút sang trọng cổ xưa. Thơ hiện đại mà có pha lẫn giọng tiêu dao tráng chí, âm vang lạ của loại ca ngâm vốn chỉ dành cho các bậc thượng căn.

Hoài vọng đất quê làm nền cho Thi Gia viết những vần thơ cảm động về mẹ cha. Bản tính hồn nhiên trong thơ Gia là một vũ khí “đắc địa” khi chạm đến tình mẫu tử, tình phụ tử:

Nghỉ tay thôi cha ơi
quấn điếu thuốc rê mà phì phà
đốt lên niềm vui từ những hàng mạ non xanh tít tắp
phì phà cơm no áo ấm
từ những vết chai
từ đôi mắt đăm đắm suy tư trong chiều
chứa đầy mẹ
chứa đầy con
chứa đầy những nỗi lo toan nhọc nhằn, những buồn vui hạnh phúc
Tuổi cha tôi như cây lúa chín vàng
Rồi sẽ như rơm rạ
Một chiều đốt đồng khói mịt mù bay
cay xè con mắt
Có đủ vô tư để đợi tuổi về không cha ơi?

Cuốc cày chi nữa cha ơi
ngồi xuống đây mà nhâm nhi cùng con ly rượu
Uống cho tuổi cha như ngọn lúa chín vàng
trĩu hạt đòng đòng bên đám mạ xanh non.

(Tuổi cha tôi như cây lúa chín vàng)

Hình ảnh “chứa đầy mẹ”, “chứa đầy con” là sáng tạo bất ngờ, làm nhoà đi bao nhiêu ranh giới tinh tế thường vẫn có trong mỗi gia đình. Ở đó, Thi Gia chia sẻ cho chúng ta một cảm nhận rất “thật thà”:

Em chẳng có gì ngoài thân thể mẹ cho
Thanh xuân trả dần cho năm tháng

(Chẳng có gì ngoài chính em thôi)

hay những lời tình tự về nỗi đau “nguyên bản” của đời người phụ nữ:

Mẹ!
Con đau khi rời mẹ
Và đau khi con làm mẹ con mình
(…)
Đau lần nữa, đau thêm ngàn lần nữa
Từ những cơn đau mà hóa phận người

(Từ những cơn đau mà hóa phận người)

Nỗi đau không thể là điều cắn xé chúng ta mãi được. Tấm lòng trong xanh sẽ làm nguôi những buồn đau trĩu nặng. Người bà trong thơ Gia khiến ta nghĩ như thế:

Bà nuôi cha tôi bằng những sớm sương dày
Bà gánh cả mảnh vườn xanh chân trần ra chợ bán
Từ đôi tay bà bó rau như xanh hơn
Cùng những bí bầu nuôi cha tôi lớn khôn

(Bà mãi còn trong giấc ngủ của đêm)

Tôi thích hình ảnh người bà gánh cả mảnh vườn xanh trên đôi chân trần. Hình ảnh đó nửa rất thực,  nửa như là một ẩn dụ nao lòng về sức xuân mạnh mẽ trong cơ thể người nữ. Nó bất ngờ đạt tới một sự lấp lánh trong sự trộn lẫn giữa nét tươi giòn háo hức với sự tiếc nuối xa xăm. Chủ đề bài thơ rất quen thuộc, nhưng cách viết của Thi Gia tạo ra một hiệu ứng mới.

Thế giới của tình thân ruột rà trong thơ Gia còn mở ra những tứ thơ gây xúc động thực sự:

Con trai tắm cho cha
Tắm cho người đàn ông đã từng công kênh mình trên đôi vai
Bế bồng mình trên đôi tay… to bè, vạm vỡ
Đón mình vào nhân gian khi còn đỏ hỏn
Tắm cho người đàn ông năm xưa đã tắm cho mình

(Tắm gội cho cha)

Tình máu mủ và tình nhân gian dường như được gắn kết bằng hình tượng những em bé. Viết về em bé là biệt tài của Thi Gia. Cũng không có gì lạ, đó là một hồn thơ quá đỗi vô tư.
Tập thơ Gia ơi, đời xanh đấy! của La Mai Thi Gia

Lời ru của Gia có màu sắc riêng, dù đã được kết trộn với nhiều tầng cảm xúc từ dân ca người Việt.

Bé bỏng trên tay mẹ ơi
Em ngủ ngoan như hạt nắng yên lành trên lá me
(…)
Bé bỏng trong tim mẹ ơi
Có lũ kiến đen kiến đỏ kiến nhỏ kiến to xếp hàng men theo cọng rơm ra ruộng
Cõng thóc về kho cho ấm no
Lũ về theo mùa giăng giăng trắng đồng cá tép
Lời mẹ hát chiều nay nghe như âu lo.

(Cho mẹ được sinh ra)

Người thơ ấy cũng không quên để lại nhiều cảm xúc về những nghịch cảnh của nhân loại quanh mình; là câu thơ tiếc thương những em bé Hàn Quốc tử nạn trong vụ chìm phà Sewol năm 2016:“Đằng sau những nụ cười đã vĩnh viễn hết cười - Tôi mường tượng ra những đôi mắt sẽ vẫn còn khóc mãi (…) ;Trái tim trẻ thơ trôi đi cùng băng giá - Để lại những cuộc đời cũng đã hóa đêm sâu”, là câu chuyện thảng thốt của người bạn chân chất cùng quên: “Sống chẳng được cái nhà che sương gió - Chết phải được cái mồ cho ấm mẹ, mày ơi!” (Mẹ nát một đời trong cái thói bao dung),  là bài thơ viết sau sự kiện xác em bé Syria trôi dạt vào bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ khi cùng cha mẹ trong chuyến tị nạn hãi hùng: “Ta còn gì cho ngày mai - Ta để lại gì cho tương lai ngoài những hố sâu hun hút - Ngoài những linh hồn bé thơ lạnh lẽo kêu đau” (Ta là gì trong cõi chúng ta), là những mong ước rất kì lạ của người mẹ với con: “Muốn làm quả bóng dưới chân con, lăn tròn trên cỏ - Chẳng có góc cạnh nào nên chắc sẽ không đau?” (Rồi cũng sẽ hết đêm).

Với trích đoạn bài thơ dưới đây, tôi nghĩ Thi Gia có thể đã tìm thấy một vài đỉnh cao nào đó trong đời thơ của mình:

Nụ cười của chúng nhốt hồn vía tôi ở đấy
Tiếng khóc của chúng nhốt tình yêu tôi ở đấy
Tôi trở thành người tù vui vẻ an lành
Hân hoan trong chiếc lồng son mang tên Hạnh phúc
Kể từ ngày những thiên thần ấy đến chơi
Tôi biết tự do của mình đã ra đi mãi mãi
Mãi mãi...
Vì bởi chính tôi khao khát được giam cầm

Những đứa trẻ được sinh ra từ máu thịt của mình
Dạy cho tôi biết chẳng có nỗi đau nào là đáng sợ
Và có những thương yêu
Cả cái chết cũng chẳng thể nào xua tan được nó
Khi ta đã được duyên lành chọn để đến bên nhau

Và khi đời còn đầy rẫy đớn đau
Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ
Thật phi thường, mạnh mẽ
Sừng sững như non cao che chở đời con trẻ
Như mẹ đã từng che chắn đời tôi

(Tôi ước tôi phi thường mạnh mẽ)        

Viết về con cái của mình như thế, tự nhiên, giản dị và thấm thía, là điều mà một nhà thơ không phải lúc nào cũng có thể đạt tới. Chúng ta chào đón những câu thơ thiện lương và tài hoa này!

Tạm biệt những câu chuyện thần tiên về em bé, chúng ta lại nghe câu chuyện khác nhọc nhằn hơn một chút: chuyện về tình ái ân và tình đa đoan.

Đọc thơ tình của Thi Gia, tôi tin rằng “một nhà thơ tình biết lay động” đã đến!

Gia không phải là nhà thơ của suy tư, khắc khoải. Chất thơ Gia không ứng với vị nồng rượu đậm. Giọng thơ này không sở hữu những mật ngữ sang trọng và cô đúc. Thơ Gia là một thảo nguyên trong xanh gợi tình. Thơ tình của Gia sẽ còn nhiều sức sống và ghi dấu ấn rất tự nhiên trong dòng thơ đương đại, bởi có gì dai dẳng và mênh mang hơn gió ở thảo nguyên, hơn cỏ xanh và trời xanh thay nhau xanh ở thảo nguyên?

Nàng thơ kể chuyện Từ ấy hồng hoang mới kết thành rằng: “Hồn ta từ dạo lan theo sóng – Rót biển cho đời xanh khát khao”, rằng “cả tin nghe gió lời ân ái – ai biết ngàn dương có thật thà”, đến nỗi “hồn bay qua đỉnh trời hoang dại – hai kẻ đùa chơi không áo manh”.

Thơ Gia không có ý khiến người ta nghĩ, mà giúp người ta thở! Đọc thơ Gia là để thở những khoảng không gian không bị giới hạn:

Kể từ chiều qua đây chập choạng
Tôi và thinh không đang lặng lẽ nhớ người!
(…)
Yêu như cơn giông trút xuống cánh đồng cháy khô giữa hạ
Yêu như đám mây đen thả mình làm mưa vội vã
Yêu đi cho nhau xanh mướt trong nhau
(…)
Mình như một hài nhi nhỏ dại
Trần truồng dưới ánh trăng xanh
Và da thịt tôi tươi mới mát lành
Tôi và người sinh nhau ra lần nữa.

(Tôi và người sinh nhau ra lần nữa)

Niềm vui thơ dại trước dư tình say đắm trong mỗi câu thơ mở ra những “cánh đồng hoa giữa trời” (những cánh đồng mà Xuân Quỳnh từng ca hát), dẫn người đọc bước vào những không gian khác lạ của tình yêu đôi lứa, được thở một sinh quyển nồng nàn của khách đa tình:

Em ngồi yên rồi
Yên như đêm vậy
Người rót tình đi, ta uống nhau.

(Người rót tình đi, ta uống nhau)

Thơ Gia là tiếng thơ của thiếu nữ nói nỗi lòng thiếu phụ, bởi vậy mà người đọc cứ thấy chênh chênh nhưng là một sự chênh chênh nghịch ngợm và rất có nghề. Thiếu nữ thì trinh thơ mà thiếu phụ thì lặng người trong cuồng nhiệt:

Tôi nhớ người tôi yêu tôi muốn hét
Tiếng hét từ châu thân thăm thẳm tột cùng
Tôi muốn giấu người sâu trong ấy
Của nhau rồi ai bận tính riêng chung?

 (Tôi nhớ người tôi yêu tôi khóc!)             

Thảo nguyên xanh gợi tình chưa dừng lại. Thi Gia khiến chúng ta ngạc nhiên và thoáng chút thẹn thùng khi viết những câu thơ, ý thơ “nhạy cảm” quá đỗi, như là: “Chờ khô giữa suối nhấp nhô – sóng tình” (Chờ khô), “trong đêm ướt sũng nỗi niềm cuộn lên – cuộn lên –  cho đêm vỡ nát tan tành – Mà anh, anh vẫn vẹn lành trong em” (Vén nỗi nhớ đầy tim), “Em nhớ anh cả những lúc bên nhau, cuộn vào nhau thương nhớ - Thiếu anh cả những lúc đầy anh trong em ăm ắp đam mê (Tia nắng cuối ngày có hong khô nỗi nhớ?).

Bóng đêm của thơ Gia bị nhà thơ mắng là “Đêm hư”, thế nó đã làm gì? Nó chỉ ghẹo tình: “Xiết bông cỏ dại – ghẹo đùa lưng ong – bên tai róc rách – mùa đang trổ đòng”.

Có sao đâu. Tình yêu cho chúng ta lạc thú, trên mọi thứ mà nó trôi qua.

Nhưng sau tất cả, sau những hồ hởi thiếu nữ là đôi mắt thiếu phụ:

Khi tình yêu ta không thể yên bình
Em thương anh chung gánh cùng em trên con đường dài thẳm sâu phía trước
Em thương người em yêu tất tả vụng về
Thương cái nhìn đầy nhau mà vờ như xanh ngắt
Sau mỗi nụ cười buồn là đôi mắt đầy mưa

(Sau mỗi nụ cười buồn là đôi mắt đầy mưa)

Vậy đó. Nàng thiếu nữ trinh thơ bỗng nhiên sương tuyết như kẻ bạc đầu. Chúng ta lại nghe một câu chuyện khác rất sâu:

Đôi khi giữa những tháng ngày bình yên giản dị
Không có chút sắc màu nên mình tưởng không vui
(…)
Giờ thì mình tập yêu những thứ thuộc về mình
Vì biết chẳng thể yêu những điều mình chưa từng có

(Hết buồn rồi thì mình sẽ hết đau)

Rồi nàng quyết liệt hơn, từng trải sững sờ:

Bởi lớn rồi nên em đã hiểu
Những bàn tay đâu thể nắm suốt đời
Khi mỏi quá cần buông nhau một lát
Cho cả hai người được phép thảnh thơi

(Chỉ cần có nhau ở chốn nhau về)

đến nỗi: “Thản nhiên mà đi qua nhau - Cái vẫy tay còn ở lại” (Thản nhiên). Và cái chết ngọt ngào hay sự thức tỉnh ngọt ngào xuất hiện: “Em học vầng trăng buông tim mình xuống đáy” (Gói lòng mình, gói cả bão giông), “Em chọn cách quay đi và khóc” (Có phải con đường quanh là con đường dài nhất).

Trăng đã chực chờ đắm
Rơi vào lòng suối sâu

(Em mơ)

Mọi thứ đang “chực chờ” để ái ân miên viễn. Trăng của Thi Gia giàu nhục cảm nhưng là thứ nhục cảm trong lành. Hãy “giải thiêng” bằng niềm vui ân ái (“tại đêm bày chuyện dập dìu – Nên ta ta cũng đánh liều giải thiêng”) – một đề nghị rất ngây thơ và đầy cảm hứng của nàng Thi Gia.

Tôi gọi Thi Gia là người “sẵn thơ”, từ tên gọi như là định mệnh cho đến những niềm thi hứng riêng tư. La Mai Thi Gia có thể biến thành “Mãi là thi gia” (mãi là nhà thơ) được chăng? Có thể lắm. Biết đâu tạo hoá chẳng vô tình.

Mọi chuyến phiêu lưu đều chứa đựng những kinh nghiệm, kì thú hoặc nhạt màu. Cũng có nhiều mất mát ở chặng cuối cùng. Cách chữa lành những vết thương phù du mà có thật là trả lại sự “như như” cho muôn tạo vật, cũng như cho chính mình. Hân hoan buồn và vui, đấy là quà tặng của trái tim hồn nhiên trước những vết xước của tâm hồn!

Từ Thơ Trắng đến Đời Xanh, miệt mài với chuyến phiêu lưu rất xa, Gia đã không quên hân hoan trả lại màu tự nhiên cho cõi tục:

Gia ơi, đời xanh đấy
Người còn thương lá vàng
Cho em mầm hoa biếc
Ươm tình chờ xuân sang.

Hãy đọc thơ Gia bằng niềm hy vọng; như cách chúng ta sống và hát trong hy vọng, dù hy vọng không đồng nghĩa với niềm vui; nó đồng nghĩa với sự sẵn lòng.

Đông kinh, Nhật Bản 02.2018
LÊ THỊ THANH TÂM
(Lời giới thiệu tập thơ Gia ơi, đời xanh đấy! của La Mai Thi Gia)


TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Thứ Hai, 17 tháng 12, 2018

Huỳnh Như Phương - nhà ký họa văn chương

Nhẹ nhàng, không đại ngôn, tác giả Huỳnh Như Phương như một người hướng dẫn khiêm tốn như thể là người bạn đồng hành cùng độc giả đi suốt hành trình từ miền ấu thơ, trải qua tuổi hoa niên đến khi bước vào tuổi "tri thiên mệnh"
GS. Huỳnh Như Phương

Trong tác phẩm mới nhất của mình, "Thành phố những thước phim quay chậm", tác giả Huỳnh Như Phương đã cho thấy cái tài của một nhà ký họa văn chương bằng việc dựng lại được tất cả hình ảnh sống động và xếp chúng lại thành một chuỗi liền mạch như thể lật nhanh các trang của một quyển sách tranh để thấy các hình ảnh ấy, những con người, hàng cây, xe cộ… đang chuyển động trong một guồng xoay của thời gian, của bốn mùa, giữa những khoảnh khắc của hơi thở hay thời gian hút tàn một điếu thuốc trong lúc cảm nhận sự chuyển dịch của khung cảnh.

Tập tản văn này thật ra không phải là một chỉnh thể được hình thành bởi những dụng ý ngay từ lúc ban đầu, nhiều bài viết trong tập này đã được sử dụng trong các tập trước đó của cùng tác giả Huỳnh Như Phương. Việc để các tác phẩm này tái xuất, đứng chung với nhau trong một cuốn sách không biết vô tình hay hữu ý lại giống với kỹ thuật dựng phim, các thước phim được cắt, nối với nhau, xoay đều trên máy chiếu để trình hiện trước đôi mắt khán giả bộ phim tư liệu về thành phố. Thành phố ở đây không chỉ một, mà là nhiều thành phố: Huế, Sài Gòn, Hà Nội, Hội An và cả… Paris, những thành phố hiện hữu trong một tập hợp các ghi chép kéo dài trong nhiều năm, từ một người quan sát thầm lặng, tinh tế và có kiến văn sâu rộng.
Cuốn sách “Thành phố những thước phim quay chậm”

Tác giả Huỳnh Như Phương dành cho mỗi bài một dung lượng vừa phải với các pha chuyển cảnh khiến cho cuốn sách thuần nhất với nhịp điệu này nhưng không gây nhàm chán dù rằng được sắp xếp theo thứ tự abc, nơi các bài viết từ năm 1995 có thể được đặt cạnh những bài viết năm 2015 mà không gây cảm giác hẫng hụt hay lệch khỏi cái không khí chung của toàn bộ tác phẩm. Để làm được như vậy chứng tỏ mạch viết của tác giả xuyên suốt và không ngừng trở đi trở lại với những vấn đề được xem là muôn thuở, vừa có tính phổ quát nhưng đồng thời lại gợi ra những đặc trưng chỉ có những nơi chốn ấy mới có: những kỷ niệm về Viện Đại học Vạn Hạnh, Trường Đại học Văn Khoa, là lao xao chợ Tết với nhà văn Lê Văn Thảo, miên man "một cõi đi về" với Trịnh Công Sơn, là những hồi ức thuở ban đầu lưu luyến khi chập chững bước vào văn chương và chịu những "tai nạn" văn chương. Những "tai nạn" từ sớm ấy đã không suy giảm tình yêu với văn chương, một tình yêu đã biến chú nhóc tỉnh lẻ Quảng Ngãi trở thành một giáo sư văn chương của chính ngôi trường Văn Khoa một thuở mình theo học.

Ta vẫn thấy trong tập sách này một Huỳnh Như Phương thủy chung với công việc quan sát cuộc sống đương đại, ở các đô thị, nhất là Sài Gòn, với những phát hiện như thể còn nguyên sơ của những điều thường ngày ta tưởng đã thân quen đến mòn sáo. Tựa hồ một tập nhật ký vừa riêng tư mà cũng như đã thuộc về mọi người, trong suốt những năm tháng ấy, đi trên những trang sách này, biết đâu được trong một giây hạnh ngộ nào đó, ta đã đứng rất gần tác giả Huỳnh Như Phương khi ông đang ngồi dưới một mái hiên rêu phong nào đó trong thành phố, cùng ông nhìn dòng người qua lại, cùng ông nghe một bài hát… tự thân cuộc sống này đã ràng rịch mỗi sinh thể tồn tại nơi nó lại với nhau và chia sẻ mọi cảm xúc bất chấp ta có cảm nhận về chúng hay chăng nữa.

Nhẹ nhàng, không đại ngôn, tác giả Huỳnh Như Phương như một người hướng dẫn khiêm tốn như thể là người bạn đồng hành cùng độc giả đi suốt hành trình từ miền ấu thơ, trải qua tuổi hoa niên đến khi bước vào tuổi "tri thiên mệnh", những bước đi thật chậm mà chắc chắn, ở bất cứ nơi nào ông dắt ta đi qua, bất cứ con người nào ông bắt tay giới thiệu với ta đều với một nụ cười, một ánh nhìn hòa ái. Sự hòa ái của một con người biết mình có thể yêu thương mọi người, cúi thấp xuống và nhìn thật gần để thấy không cần phải to lớn thì mới là vĩ đại, mà bản thân sự vĩ đại của bất cứ thứ gì thì cũng chỉ là tầm thường trong thế giới này.

Không có sinh mệnh lớn và sinh mệnh nhỏ vì mọi sinh mệnh đều ngang nhau, cho nên không bao giờ đặt mình cao hơn đối tượng quan sát mà vẫn làm ta thấy gần gũi hệt như những pho tượng Phật ngự trong ngôi chùa nơi hẻm nhỏ mà ông để ý và muốn giới thiệu với ta: "Phật nghiêng xuống đời thường, nghiêng xuống kiếp người, nên con người cũng không phải ngẩng mặt lên quá cao để đón lấy nụ cười bao dung của Phật".

HUỲNH TRỌNG KHANG
Nguồn: NLĐ

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Nhà văn Nam Cao qua chuyện kể của Vũ Bằng

“Nhắc đến Nam Cao, bây giờ tôi có tiếc điều gì, ấy là tiếc đã không biết Nam Cao sớm hơn một chút...”, đó là lời nhà văn     Vũ Bằng trong cuốn Vũ Bằng - Mười chín chân dung nhà văn cùng thời do tác giả Văn Giá sưu tầm, giới thiệu. Ngay vị trí Nam Cao trong tập sách cũng cho thấy  Vũ Bằng đánh giá Nam Cao rất đúng mực, chỉ đặt sau Vũ Trọng Phụng…
Nhà văn Nam Cao

Phát hiện văn tài Nam Cao một cách tình cờ

Vũ Bằng thuật lại: “Ngay lúc Tiểu thuyết thứ bảy ra khổ lớn, Nam Cao đã có viết mấy truyện gửi về báo, nhưng tòa soạn cũ không đăng, tôi quả quyết không phải là vì vấn đề dìm nhau, đố kỵ nhau, nhưng có nhiều phần chắc chắn là vì vấn đề lười nhác hay không có sự trùng hợp ý kiến giữa người viết truyện và người lựa truyện. Sở dĩ nói như vậy là vì lúc đó Tiểu thuyết thứ bảy “ăn” về độc giả bình dân, đối tượng là đàn bà con gái, thích đọc truyện ướt át, lâm ly một chút, ly kỳ một chút. Chứ những truyện “Tây” quá - nghĩa là khô khan, không có thương nhớ, không “khóc được” - thì không “ăn tiền”".

Bỗng tình cờ Vũ Bằng được giao làm Thư ký tòa soạn khi Ngọc Giao (chủ bút Tiểu thuyết thứ bảy) có ý định muốn đi Nam để kinh doanh với một người bạn nhập cảng sắt cũ. Rồi một buổi chiều xấu trời, không đi chơi tếu được, Vũ Bằng rút một vài bài ra xem thì trong số đó có một truyện của Nam Cao. Chỉ đọc độ nửa trang đầu, ông đã cảm thấy một truyện “đăng được”, và khi đọc xong thì ông bị Nam Cao cám dỗ. Ngay buổi tối hôm đó, Vũ Bằng hì hụi giở hết cả chồng bài cũ ra kiểm thì thấy Nam Cao còn có 2 truyện nữa. Ông đọc luôn một hơi và ngay sáng hôm sau, sửa qua vài chữ, vẽ ma két, đặt truyện của Nam Cao lên trang nhất, kèm một cái sa-pô giới thiệu một văn tài mới...”. 

Đó là câu chuyện Vũ Bằng đã tìm thấy “Đôi lứa xứng đôi”, hay “Cái lò gạch cũ” mà sau này đổi thành truyện “Chí Phèo”.
Một số tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nam Cao

Và hình ảnh đầu đời của một văn tài kiệt xuất

Sau khi đăng được mươi truyện của Nam Cao ở trên tờ Tiểu thuyết thứ bảy rồi, Vũ Bằng mới biết Nam Cao bằng da bằng thịt. “Anh đi thẳng vào nhà tôi ấp úng tự giới thiệu. Vũ Bằng đã kể về cái cảm giác đầu tiên gặp Nam Cao: “Là một người hiền lành, chân thật và nhũn nhặn...” và “...Lúc đó, Nam Cao độ 23 - 24 tuổi, nhưng nếu bảo là anh 35 - 36 tuổi cũng có thể được vì anh có vẻ già trước tuổi, không ngây thơ, bụ bẫm như Tô Hoài, tuy anh và Tô Hoài là hai bạn thân và cùng một lứa tuổi với nhau... 

Anh có vẻ tính toán từng cử động, thỉnh thoảng lại đưa tay lên vuốt lại mấy cái tóc xõa xuống mang tai. Tội nghiệp, đừng có ai tưởng anh để tóc kiểu hippy, tóc anh dài quá chỉ là vì anh lười cắt, mà nguyên nhân lười là vì không… có tiền. Mùa rét chỉ có trần một bộ màu đen sọc đỏ lợt, giầy không há mõm nhưng lúc nào cũng đầy bùn. Có lẽ tại vì từ nhà anh lên Hà Nội phải đi qua nhiều quãng đường đê lầy lội. 

Ngày một ngày hai, quen biết với Nam Cao hơn, tôi biết anh là một nhà văn nghèo túng còn hơn cả Vũ Trọng Phụng... Nghèo, nhưng nhà văn Nam Cao luôn trọng nhân cách. Trong suốt cả một thời kỳ đi lại thân mật với nhau, anh không cho tôi biết anh có mấy con cả thảy, nhưng anh đã nói như thế này: “Nhà thì nghèo chật, nền nhà thì là đất nện, mưa thì dơ, nắng thì bụi, mà một lũ con oánh nhau chí chóe cả ngày... Không cố viết mà kiếm tiền nuôi chúng thì làm thế nào được hở anh?”.

Bắt đầu viết Tiểu thuyết thứ bảy, Nam Cao được 15 đồng một tháng, sau đó hình như tăng lên được 20 hay 25 đồng. Nam Cao cho như thế là tạm đủ, không thấy phàn nàn bao giờ về tiền nong. Hỏi ra thì trước khi viết báo như thế, tất cả sự sinh sống của gia đình anh dựa trên một giàn trầu. Cứ đến phiên chợ thì bà anh lại hái trầu đem bán. Nhưng bán trầu mà nuôi sống được cả nhà ư? Tôi băn khoăn tự hỏi như thế nhiều lần, nhưng không tài nào biết được Nam Cao đã làm cách nào để sống, dù là sống khổ ở một cái làng hẻo lánh nhất, nghèo khổ nhất tại một miền quê xa xôi nhất thành Nam. Nam Cao không hề cho ai biết sự thật đó...’’.

Vũ Bằng viết về bút pháp nghệ thuật Nam Cao: “...Đặc điểm của Nam Cao theo tôi là ở sự giản dị chân phương. Cũng như người anh, văn anh không cầu kỳ, nhưng “đánh phát nào trúng phát ấy”, đi sâu vào tâm hồn người ta...”.

Một quan niệm hầu như đã quán xuyến toàn bộ đời văn của Nam Cao. Những chuyện buồn tủi, trớ trêu của cuộc đời giáo Thứ (Sống mòn), Điền (Giăng sáng), Hộ (Đời thừa) đều được chắt ra từ   chính cuộc đời của nhà văn. Còn những Thị Nở, Bá Kiến, Binh Chức, Lão Hạc, Dì Hảo, Lang Rận, Trạch Văn Đoành... đều là nguyên mẫu từ cái làng Đại Hoàng khốn khó bên dòng Châu Giang, là quê hương nhà văn.

Tôn vinh một văn tài qua đôi mắt Vũ Bằng

Là người có công phát hiện văn tài Nam Cao, rồi đến khi Nam Cao nổi tiếng, ông một lòng ngưỡng mộ, khao khát được như bạn mình: “Riêng tôi, được biết thêm Nam Cao, tôi rất lấy làm hãnh diện. Mỗi khi có bài của anh gửi về, tôi chưa đọc mà đã tin chắc là hay. Quả nhiên như thế, văn Nam Cao mỗi ngày viết một chắc chắn và sâu sắc hơn lên. Chừng một năm sau, thú thực là tôi đã buồn se sắt một thời gian vì biết rằng Nam Cao còn tiến, và vẫn tiến, chắc chắn tôi không thể nào theo kịp... Thực tình như thế, bởi vì tôi thấy Nam Cao nổi lên dữ quá, văn anh hay quá, nhiều khi đọc xong một truyện của anh, tôi lấy làm “quái lạ” sao người ta lại có thể lẩm cẩm và tài tình như thế? Sao lại có thể chọn lựa những hình ảnh, những danh từ “mả’’ thế? Sao lại có thể tạo nên một truyện giản dị mà lạ lùng đến thế?... Riêng về Nam Cao, theo sự hiểu biết thiển cận của tôi thì quả tôi chưa thấy có một nhà văn nào “dớ dẩn mà ăn người” như thế...”.

Thương tiếc bạn hy sinh trong kháng chiến, Vũ Bằng viết “...Chỉ đau có một điều là những nhà văn cỡ Nam Cao chết đi giữa lúc chiến tranh sôi động thật là một thiệt thòi rất lớn cho riêng phe văn nghệ… Vâng! Nam Cao lỗi lạc như vậy, nhưng cuộc đời khốn khó cùng cực. Chỉ những người dấn thân cho sự nghiệp mới vượt lên hoàn cảnh để sống đẹp, để cống hiến tài năng cho đời. Nam Cao là một người như vậy”.

TÂN LINH
Nguồn: ANTĐ


BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...