Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2018

Trời đánh còn tránh miếng ăn!


Một trong những “điểm yếu” của loài chó là việc “ứng xử” với miếng ăn. Dường như trước vấn đề này, không mấy chú giữ được “khí tiết”. “Như bầy chó đói chực chồm miếng ăn” (thơ Tố Hữu), “Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương” (thơ Nguyễn Vỹ). Thậm chí, thói xấu ấy của chúng còn được người đời đúc kết trong hai chữ “la liếm”. Chỉ vì “la liếm” trong phút tự do không ai kiểm soát mà nhiều chú bị đánh bả, phải đổi bằng cả mạng sống!
Chú chó Sully nằm cạnh linh cữu cố tổng thống George H.W Bush. 

Nói vậy là để con người lưu ý hơn đến đặc điểm này mà có cách xử sự với loài chó sao cho tinh tế, phù hợp.

Tôi có anh bạn hiện sống, làm việc tại Sài Gòn. Biết tôi thuộc “hội yêu chó”, anh đã kể tôi nghe một câu chuyện mà theo anh nhận xét là “rất đáng phẫn nộ” sau đây:

Hôm ấy, buồn tình, bạn anh - một ông cán bộ vừa chớm tuổi hưu đem mồi ra nhậu. Gần đó là con chó bị xích. Vừa nhậu, ông vừa vứt toẹt các mẩu xương xuống chân bàn. Điều lạ là, xương vứt xuống, ông gọi bầy chó thả rông trong khu dân cư tới thỏa thuê gặm, nhá, còn con chó của nhà thì ông vẫn xích. Oái oăm hơn, ông vứt những miếng xương ở tầm mà con chó bị xích dù cố dướn đến mấy cũng không sao với tới, trong khi những con chó bên ngoài thì cứ thoải mái rau ráu, rôm rốp.

Hình như ông đang đùa.

Hoặc giả ông muốn trừng phạt con chó. Chẳng là, con chó rất quấn chủ cũ - tức bà vợ đã ly hôn của ông. Dù hai người chia tay đã lâu, vậy nhưng ở với ông, nhiều lúc nó cứ nức lên, rền rĩ, khiến ông hậm hực!

Ở đây, người đàn ông đã phạm sai lầm. Như phần đầu bài đã nói, chuyện miếng ăn đối với loài chó là chuyện “nhạy cảm”. Việc con chó phải gồng mình vít dây xích để dướn tới miếng xương - trong khi các con khác mặc sức “đánh chén” no nê - đó quả là một sự… “tra tấn” đối với nó. Không, ở đây tôi không muốn dùng hai chữ “xúc phạm”, bởi có thể ai đó sẽ cho rằng nói vậy là quá… cao xa. Điều tôi muốn cảnh báo là, với con chó trong trường hợp cụ thể này, đó quả thực là một sự “tra tấn”.

Con chó hết ngước cặp mắt u ẩn nhìn chủ lại nhìn sang miếng xương, rồi nhìn những con chó khác đang thỏa sức xử lý đống “chiến lợi phẩm” được tới tấp quăng ra từ bàn tay ông chủ của nó. Không chỉ những gì đập vào mắt, với con chó, cả mùi vị lẫn tiếng nhai rổn rảng của đồng loại đều thực sự là…“hấp lực” đủ khiến cái cơ thể còm cõi của nó phải rung lên.

Nước miếng của nó liên tục tứa ra.

Người đàn ông vẫn không để ý. Nói đúng hơn là ông… bất chấp. Lại một mẩu xương nữa được vứt xuống. Lần này mẩu xương gần tầm với của con chó. Mặc sợi xích thít đến lằn cổ, con chó cố nhoài mình… vươn tới. Khi bàn chân trước của con chó sắp quều được miếng xương thì cũng là lúc người đàn ông “phát hiện” ra sự việc. Rất phũ phàng, ông ta lấy chân gạt phắt miếng xương qua chỗ một con chó khác.

Bốp - Con chó tớp một nhát trúng vào bắp chân người đàn ông.

Có thể nó không còn “kìm” được sự phẫn uất.

Cũng có thể chỉ là do nó… đớp hụt miếng xương.

“Ái dà, khốn nạn con này!” - Người đàn ông rít lên, răng nghiến trèo trẹo. Đoạn, ông đứng dậy, lò cò đi vào nhà trong. Không, không phải ông vội đi tìm bông băng để rịt vết thương. Vật ông cần tìm là thanh sắt ngáng cửa. Và ông đã tìm thấy. Dồn tất cả sinh lực của một thằng người có cơ thể hộ pháp, lại vừa qua bữa nhậu đẫy bụng, ông ta vụt liên tiếp thanh sắt vào đầu con chó. Con chó tội nghiệp trong tư thế bị xích quả không phải là “đối thủ” của ông. Chỉ sau hai nhát đập, con chó nằm sõng sượt, ngực không nhịp thở.
Chó là loài vật trung thành với con người. 
Trong ảnh: Một chú chó nằm trên mộ chủ đã mất (nguồn ảnh: Internet).

Chưa hả giận, ngay sau khi đập chết tươi con chó, người đàn ông bốc máy gọi bạn. Ông muốn gọi họ tới nhà cùng ông xẻ thịt chính con chó ông vừa đập chết để… nhậu. Trả lời câu hỏi “Nhậu chi nhậu dữ vậy”, người đàn ông mặt bóng mỡ, tay gãi bụng sồn sột nhếch mép cười gằn. Dường như lúc này, với ông, mồi nhậu phải là chính con chó vừa “hỗn hào” tớp chân ông kia mới đủ làm ông… hạ hỏa!

Mắt ông vằn đỏ. Ông “hận” con chó nuôi của mình mà không hề để ý, trên nền gạch cóc cáy, con chó bất hạnh nằm thẳng cẳng, phơi cái bụng lép kẹp “chờ đón” các bạn nhậu của ông. Trên hai khóe mép nó là dòng nước dãi chưa kịp khô, và trên khuôn mặt giúm lại vì quá đớn đau là cặp mắt đục lờ, như không muốn sao in bất kỳ hình ảnh nào từ bộ mặt phì nộn, nhẫn tâm của người đàn ông một thời nó cúc cung phục vụ.

Câu chuyện bấc giác làm tôi nhớ tới truyện ngắn “Con chó mực có vòng lông trắng” của nhà văn Phạm Lưu Vũ. Truyện kể về một con chó không biết vì lý do gì có mối “tư thù” với một vị thẩm phán, đến độ khi nó bị bắt trộm và bị làm thịt rồi mà vẫn đủ sức “báo oán”, khiến vị thẩm phán “bị hóc nguyên cả hàm răng chó, không cấp cứu kịp nên đã chết”.

Cả hai câu chuyện đều có điểm giống nhau là “người thật việc thật”. Tuy nhiên, khác với việc báo oán mang màu sắc tâm linh trong truyện ngắn của nhà văn Phạm Lưu Vũ, người đàn ông trong câu chuyện tôi vừa kể hiện vẫn sống… nhăn. Và dẫu khi bị chó cắn, ông hung bạo thịt ngay con chó (thay vì theo dõi bệnh tình của nó như nhiều trường hợp được khuyến cáo), cũng như quên luôn việc đi tiêm phòng, song may mắn là sau đó ông không hề hấn gì.

Có điều, dù không bị lây truyền vi rút bệnh dại, song sau vụ việc quá “thất nhân tâm” nói trên, rất nhiều người, trong đó có cả những bạn thân của ông đã kêu gọi tẩy chay, không quan hệ với ông. Tất cả đều cho rằng, việc ông đối xử với vật nuôi như vậy là quá hèn hạ, quá độc ác!

PHẠM KHẢI
Theo VNCA



Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

"Nâng niu" của Lê Giang - chan chứa ân tình

Có thể ghi nhận đây là một tuyển tập chan chứa ân tình mà nhà thơ Lê Giang đã dành cho chính mình lẫn bạn đọc. Tôi muốn mượn câu thơ của nhà thơ Lê Giang đã viết tặng nghệ sĩ Viễn Châu: "Niềm tâm sự bồi hồi xao xuyến quá", thay cho lời nhận xét về tập sách "Nâng niu" (NXB Tổng hợp TP HCM) của chị.
Nhà thơ Lê Giang

Qua hơn 500 trang sách, ở phần 1 - "Một thời để thương", là cảm nghĩ của các đồng nghiệp như Lý Lan, Nguyễn Quang Sáng, Vũ Ân Thy, Nguyễn Nhật Ánh, Trần Nhật Vy, Lê Minh Quốc, Vũ Quần Phương… kể lại kỷ niệm và cảm nghĩ khi đọc những tác phẩm của Lê Giang. Qua đó, ta thấy hiện lên chân dung của một nhà thơ, nhà nghiên cứu, tác giả kịch bản... mà nổi bật nhất là tâm hồn của một con người luôn đau đáu với ca dao, dân ca, đi tìm tiếng nói quê kiểng còn lưu giữ ký ức bà con nhiều vùng miền.

Qua phần 2 - "Một thời để nhớ", là những tùy bút bay bướm, ngẫu hứng thân mật của Lê Giang dành cho bạn văn. Đó là những trang viết về nghệ sĩ Viễn Châu, Nguyễn Duy, Xuân Hồng, Lưu Hữu Phước, Trần Kiết Tường, Trịnh Công Sơn…; là bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Văn Thủ… Điều này cho thấy nhà thơ Lê Giang là người đôn hậu, có trước có sau, những tình cảm buồn vui trong một thời kháng chiến, chị không hề quên.

Không chỉ văn xuôi, tình cảm ấy còn thể hiện ở thơ, chẳng hạn với nghệ sĩ Quốc Hương là những câu thấm thía ruột thịt: "Ơi anh chàng hát rong ơi!/Dù anh có đi cùng trời cuối đất/Thì bà con cũng nhận ở nơi đây/Nơi con kinh Kiểm Lâm ở cuối trời này/Họ đã sinh ra người hát rong hát những bài ca/Cho người trồng khoai gieo lúa/Những bài ca tuổi trẻ/Để làng xóm nhớ anh/ Lên cao như ngọn tre/Và xuống trầm như nước lũ". Chị dành cho nhạc sĩ Xuân Hồng những câu chí tình: "Khóc thương nhau biết bao nhiêu cho đủ/Phải nén lòng dành nước mắt khi vui"…

Thêm một điều lý thú, không thể không nhắc đến còn là các bài viết kể lại quá trình chị đi sưu tầm dân ca, ca dao với nhiều chi tiết ngộ nghĩnh, lạ lẫm. Có lẽ bạn đọc phải cảm động khi đọc "Xóm góa": "Chúng tôi ngồi sát vạt vào họ, sát vạt câu ca dao: "Hai tay bưng dĩa cá chiên/ Chồng thanh vợ lịch mải nhìn quên ăn". Ơi, chồng của câu hát đâu, sao không đối lại?".
Ngoài ra, còn là những trang nhật ký của một người đi nhặt từng hạt ngọc nơi đồng sâu, bưng biền còn đang lưu giữ trong ký ức dân gian: "Gió thổi ù ù trên đồng sậy đưng trống trải gợi lên biết bao vui buồn, biết bao ơn nghĩa. Nhớ lại nhiệm vụ chính trị của mình sáng giờ chưa có "hột" nào, chúng tôi mở vài đoạn băng làn điệu dân ca thu được cho chị Sáu phụ trách xã nghe, để khi gần gũi mấy má, mấy dì nắm trước tình hình hò, lý… và hẹn ngày trở lại".

Cấu trúc một tác phẩm nặng về tình, về nghĩa như thế này nhìn chung là chỉn chu, đầy đặn. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay hễ nhắc đến Lê Giang, lập tức công chúng lại nhớ đến nhạc sĩ Lưu Nhất Vũ.

Có thể nói, đây là đôi bạn đời rất đẹp trong sinh hoạt văn học của vùng đất phương Nam nói chung. Góp mặt của tác giả ca khúc "Bài ca đất Phương Nam" trong tập sách này là các hình ảnh anh chụp nhà thơ Lê Giang cùng đồng nghiệp.

Sau khi đọc "Nâng niu", điều còn đọng lại trong lòng người đọc là khuôn mặt nhà thơ với nụ cười hồn hậu, hạnh phúc, sống hết mình với nghệ thuật. Muốn được vậy, nói như nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thì nhà thơ Lê Giang "phải biết sống mạnh mẽ, chân thành, lòng như muối mặn và nhất là phải biết "nghiêng tai dưới gió" để mà nắm bắt những giai điệu đa thanh của cuộc đời". Còn nhà thơ Lê Giang cho biết "Nâng niu" là thành quả của tâm niệm: "Đời cho ta được nâng niu/ Nâng niu cho đời ta được". Để bây giờ, chúng ta đọc và cảm thấy "Niềm tâm sự bồi hồi xao xuyến quá".

ANH LƯU
Nguồn: Người Lao Động 27.11.2018

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Thứ Tư, 5 tháng 12, 2018

Trông về Ngàn Hống, nhớ Uy Viễn tướng công!

Nói đến xứ Nghệ, không thể không nhắc đến hai bậc chân tài lừng danh ở đất Nghi Xuân, dưới chân dãy Ngàn Hống (Hồng Lĩnh) uy nghi kéo dài ngó ra hữu ngạn dòng Lam biêng biếc xanh, đó là Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ. Hai người hơn kém nhau 13 tuổi. Hai ngôi làng Tiên Điền và Uy Viễn chỉ cách nhau chừng một khúc “dao quăng” thôi. Một người là đại thi hào Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới; một người vừa là thi nhân độc đáo và là tướng quân giỏi đánh đông dẹp bắc, vừa lại có tài kinh bang tế thế, được dân chúng đời đời thờ phụng.
Chân dung lụa danh nhân Nguyễn Công Trứ

Tài hoa, văn võ song toàn

Nguyễn Công Trứ tự Tồn Chất, hiệu Ngô Trai, biệt hiệu Hy Văn, quê ở làng Uy Viễn (nay là xã Xuân Giang) huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sinh trưởng trong một gia đình đại quan, thân phụ là Đức ngạn hầu Nguyễn Công Tấn (đời Lê) và thân mẫu là Nguyễn Thị Phan, ái nữ của quan Quản nội thị tược Cảnh Nhạc Bá ở Thường Tín, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Ông chào đời ngày 19-12-1778, tại tại Quỳnh Phụ, Thái Bình. Từ nhỏ Nguyễn Công Trứ đã nổi tiếng học giỏi, có tài thơ văn, tính cách phóng khoáng. Lên 11 tuổi, ông theo cha mẹ về sống ở Hà Tĩnh. Là người thông tuệ, năm Gia Long thứ 2 (1803), khi nhà vua xa giá ra Bắc, lấy tư cách là người dân, ông dâng tập “Thái Bình thập sách” (chính trị). Nhưng nghiệp “lều chõng” của Nguyễn Công Trứ lận đận, ngoài 40 tuổi, ông mới đậu Giải nguyên, nhận chức Hành tẩu Quốc tử giám. Từ đây, ông được bổ dụng giữ nhiều chức quan như Tri huyện, Lang trung, Tư nghiệp Quốc tử giám, Thị lang, Tổng đốc... Ông để lại gia tài gồm 150 bài thơ, văn đặc sắc (phần lớn bằng chữ Nôm) nhất là thể ca trù (hát nói).

Con đường hoạn lộ của Nguyễn Công Trứ khá gập ghềnh, trắc trở, nhưng ông vẫn không chút ưu phiền. Cuộc đời ông ba chìm, bảy nổi, với bảy lần thăng, bảy lần giáng. Có lần từ Binh bộ Thượng thư (ngang với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bây giờ) ông bị giáng xuống làm lính trơn, quân tiên hiệu lực, chuyên cầm cờ lệnh chạy trước trận đánh. Cực nhọc vì gió to cờ lớn, phải cố đem hết sức bình sinh ra mới giữ được cán cờ. Lại cực kỳ nguy hiểm, vì mũi tên hòn đạn của đối phương đều nhắm trước tiên vào người cầm cờ!

Tương truyền, khi bị đưa đi làm lính thú ở một huyện sơn cước Quảng Ngãi, nơi có viên quan huyện vốn là học trò cũ của ông. Một hôm quan đi tuần bắt lính khênh kiệu. Thấy một người lính già vừa được phái đến có nét nhang nhác giống thầy học của mình, nhưng lại nghĩ không thể có chuyện trời sụp như này được, nên ông huyện đĩnh đạc lên kiệu. Người lính già vào kíp khênh kiệu đầu tiên. Dọc đường, mấy bạn lính cùng đi nói với ông, bấy lâu nghe bác đọc biết bác nhớ nhiều thơ hay, nay thử đọc vài bài nghe cho bớt nhọc. Thế là “Uy Viễn lính thú” ngất ngưởng mở lời. Nghe thơ và giọng đọc, viên tri huyện bắt đầu hoảng hồn. Đến khi nghe một anh lính lục vấn thơ ai mà hay rứa, ông bảo, thơ tau chứ còn thơ ai! Tri huyện vội vàng nhảy xuống đất và đến trước mặt thầy sụp lạy: Con không ngờ có chuyện này, nên đắc tội với thầy! Rồi anh ta nằng nặc mời thầy lên kiệu để mình khiêng một quãng để tạ tội thất lễ với thầy. Uy Viễn nghiêm mặt bảo không được, anh làm vậy là trái mệnh vua, mà mệnh vua là mệnh trời! Thấy trò cũ chần chừ, ông giục anh ta cứ lên kiệu, không sao cả. Khi làm quan ta không thấy vinh thì nay làm lính chẳng có gì là nhục! Vâng lời thầy, viên quan huyện đành lên kiệu nhưng bắt người lính khác khiêng, nhất quyết không để thầy mình vất vả.

Thời gian bị đày làm lính của cụ Thượng Trứ cũng không lâu, vì sau đó ở vùng Thái Bình nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân do Phan Bá Vành chủ xướng. Bấy giờ, quan quân không ai địch nổi nên triều đình buộc phải phục chức cho ông, một người vốn có tài thao lược, để ông chỉ huy đánh dẹp. Kết quả, Uy Viễn tướng công dùng kế “dĩ độc chế độc” bắt được “vua Bá Vành”, dẹp loạn, trả lại sự bình yên cho một vùng đất rộng lớn. Về công, tội xin hãy để cho lịch sử phán xét, chỉ biết là mệnh quan triều đình thì buộc phải tuân mệnh vua.
Bia và nhà thờ Uy Viễn tướng công ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Một tấm lòng trung, một đời vì xã tắc

Công lao của Nguyễn Công Trứ là “dời non lấp biển” vì sinh kế của dân. Có lẽ để tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng mình thời thơ ấu, khi giữ mệnh quan triều đình, ông luôn đau đáu nỗi lo tìm sinh kế cho dân và lo an dân. Nguyễn Công Trứ đã rất thành công trong việc mộ dân, khẩn hoang, quai đê lấn biển, lập ra huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và huyện Tiền Hải (Thái Bình), biến nơi đây trở thành hai vùng đất trù phú. Ngay lúc sinh thời cụ Thượng Trứ, dân chúng ở các huyện trên đã cho lập sinh từ (thờ sống) để ghi nhớ ân đức của ông. Hằng năm, cứ đến lễ Hạ nguyên (rằm tháng Mười âm lịch), thì một đoàn tráng đinh từ Kim Sơn đem kiệu vào Nghi Xuân rước cụ Thượng ra Bắc; trong khi đó, một đoàn khác lo túc trực tại chân núi Tam Điệp. Hễ vừa nom thấy bóng kiệu rước thì lập tức cho người phi ngựa về cấp báo để dân chúng biết kéo ra đón, vời cụ về điện thờ, bái lạy tạ ơn. Vì ganh ghét với lòng dân dành cho người có công lớn, đám gian thần xúc xiểm và tâu đến tai vua Minh Mạng, rằng Nguyễn Công Trứ đang “thu phục nhân tâm, ủ mưu làm loạn!”. Từ bấy trở đi, ông đành từ chối mỗi lần được mời ra Bắc, để tránh cái vạ tru di tam tộc.

Tròn 70 tuổi mới được về hưu, ngót 10 năm, cụ Thượng Trứ chỉ quanh quẩn trong vùng. Mỗi lần ngao du, thay vì ngựa xe, ông thường “cưỡi bò vàng đủng đỉnh” vui thú tiêu dao. “Đồ môn giải tổ chi niên/ Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” (Bài ca ngất ngưởng). Tương truyền, con bò ông cưỡi là con bò cái. Nên mỗi khi ra ngoài, ông thường dùng tấm mo cau buộc che đít bò lại. Thấy lạ, nhiều người hỏi sao cụ lại làm vậy, ông cười nhẹ “để che miệng thế gian!”. Chẳng hiểu sao chuyện đến tai vua Tự Đức. Nhà vua bèn cho vời Nguyễn Công Trứ vào cung để hỏi chuyện. Vốn là người hay chữ, vua Tự Đức hỏi mấy năm khanh về hưu có bài thơ nào hay không? Ông tâu thơ tự làm thì không có, nhưng hạ thần có nghe được một số câu trong dân gian rất hay. Vua bảo đọc nghe coi. Ông đọc bài vịnh chiếc phản ngựa (miền Trung có nơi gọi là ghế ngựa). Đó là phiến gỗ rộng được bào láng, dùng làm phản để nằm vào mùa hè rất mát mẻ. Nhưng, theo Hán tự, thì “phản” có nghĩa là không trung thành. “Ngã lưng cho thế gian nhờ/ Vừa êm, vừa mát lại ngờ bất trung”.

Cũng có dị bản: “Ngã lưng cho thế gian ngồi/ Rồi ra lại nói những lời bất trung”. Bài thứ hai, vịnh chiếc máng nước. Là vật thường đặt giữa mái hai nhà (nhà trên và nhà dưới) dùng để hứng nước, nên bị mang tiếng là ăn ở hai lòng. “Ngay lưng cho thế gian nhờ/ Người mà không biết, trời đà biết cho”. Là đấng minh quân, vua Tự Đức hiểu ngay là Nguyễn Công Trứ có ý oán trách triều đình ngờ oan cho mình. Không những không giận, nhà vua còn khen hay và ban thưởng rất hậu hĩnh cho kẻ sĩ.

Là người tài hoa và phóng túng, cả công lẫn danh đều quán thế, Nguyễn Công Trứ luôn ý thức và đề cao vai trò cá nhân, trái ngược với tư tưởng an mệnh, thụ động chờ mệnh theo quan niệm Nho giáo. Từ sự nhận chân tài năng của mình, ông ý thức: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”. Ngông, nhưng đã là người chân tài, thiết nghĩ đâu cần phải giấu giếm. “Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng ngày tháng để dành chơi”. Đa tài nên đa tình. Hậu thế còn thích thú truyền mãi chuyện: “Giang sơn một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng”. Dễ gì quên được những câu thơ viết về nhân tình thế thái của ông: “Gớm chết nhân tình thế thái/ Lạt nồng coi chiếc túi đầy vơi”; “Tiền tài hai chữ son khuyên ngược/ Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi”. “Ra trường danh lợi vinh liền nhục/ Vào cuộc trần ai khóc trước cười!”. Nhưng khí phách của cụ Thượng Trứ thì còn mãi với nước non: “Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo!”. Không chỉ “trước bạ thể hát nói vào lịch sử văn học” Uy Viễn tướng công cũng chính là người đưa nghệ thuật ca trù lên đỉnh cao của văn hóa dân tộc, neo giữ mãi trong lòng người.

Sách Đại Nam liệt truyện, tập 3, nhận xét về ông:Công Trứ là người trác lạc, có tài khí, có tài làm văn, càng giỏi về quốc âm, làm ra thi ca rất nhiều, khí hào mại, phổ đầy ở trong âm luật; đến nay hãy còn truyền tụng. Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cất nhắc lên ngay; tỏ sức ở chiến trường nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thuỷ, trải sơn 10 năm có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật…”.

Nhưng như vậy không có nghĩa là Nguyễn Công Trứ toàn bích mà không có mặt hạn chế, bởi “nhân vô thập toàn”. Say mê gái đẹp nhưng Nguyễn Công Trứ lại có quan niệm quá ư khắt khe với phụ nữ. Hai thi hào họ Nguyễn cùng thời vậy mà mỗi người có một cách nhìn và thái độ khác nhau về thân phận nàng Kiều. Nếu cụ Tiên Điền “rỏ máu làm mực” viết nên kiệt tác “vô tiền khoáng hậu” là Truyện Kiều với sự cảm thông sâu sắc “Người sao hiếu nghĩa đủ đường/ Kiếp sao chịu những đoàn trường thế thôi”, thì Uy Viễn trong bài “Vịnh Kiều” lại khác hẳn. Sự “kết án” của Nguyễn Công Trứ đối với nàng Kiều rất nặng nề. “Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa/ Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”… Nói đi phải nói lại. Từ xửa xưa, người Trung Quốc có câu thành ngữ: “Trí giả thiên lự tất hữu nhất thất”. Nghĩa là bậc tài trí đến đâu trong một ngàn lần suy nghĩ cũng phải có một lần sai!

Tuy nhiên, cùng với tài và tình nức tiếng, tót vời, hậu thế ít ai sánh kịp và điều đáng kính trọng ở Nguyễn Công Trứ là ông luôn trải tấm lòng son với đất nước. Mùa thu năm Mậu Ngọ (1858), liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Trước họa xâm lăng, bất chấp tuổi đà bát thập, Nguyễn Công Trứ vẫn tha thiết xin cầm quân đánh giặc. Thấy ông tuổi cao, sức yếu, vì vậy triều đình nhà Nguyễn không chấp thuận. Và chỉ vài tháng sau thì ông tạ thế tại quê nhà Nghi Xuân.

Tháng 12-2018 này, trên quê hương Hà Tĩnh diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm 240 năm sinh và 160 năm ngày mất của Nguyễn Công Trứ, một tài năng độc đáo, người khai sinh thể loại hát nói và đưa thể loại này lên đỉnh cao. Trên hết cả một đời, tin rằng hậu thế sẽ còn mãi nhớ ông như một cây thông rễ sâu, gốc cả, lừng lững trên đỉnh non Hồng. Vâng, cội rễ bền, dời chẳng động, ấy là cụ Thượng Nguyễn Công Trứ!

NGUYỄN MINH NGỌC
_______________________________

Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc còn có các bút danh Lan Chi, Đức Nguyện. Ông sinh ngày 30 tháng 8 năm 1957, quê quán làng Quang Dụ, xã Đức Quang, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Tháng 4 năm 1975, đang học phổ thông thì nhập ngũ. Cuối năm 1975, về Quân chủng Phòng không - Không quân. Học đào tạo sĩ quan chính trị tại Trường Sĩ quan Không quân (1980-1983), từng là Trưởng ban Tuyên huấn Nhà trường. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Huế (1987-1991).

Từ năm 1997, ông chuyển sang làm biên tập văn xuôi Tạp chí Nha Trang thuộc Hội VHNT Khánh Hoà. Cuối năm 2004, Bộ Quốc phòng điều động về Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, phụ trách Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Biên tập viên NXB QĐND và Tạp chí Văn hóa Quân sự. Quân hàm Đại tá.

Hiện ông thường trú tại: 2/26 Quốc lộ 13, Khu phố 3, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc là Phó ban Kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam khoá IX, Phó ban Kiểm tra Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh khoá VII (2015-2020).

Tác phẩm đã xuất bản:

Cành mận trắng (tập truyện, Nxb Thanh Niên, 1997);
Một thời và mãi mãi (tập ký, Nxb Hội Nhà văn, 2001);
Một cõi ấu thơ (truyện dài, Nxb Kim Đồng, 2002);
Bay đêm (tập truyện, Nxb QĐND, 2002);
Đất thiêng (truyện dài 2 tập, Nxb Trẻ, 2003);
Chị Ngần (tập truyện, Nxb Kim Đồng, 2004);
Trong nắng gió Trường Sa (tập ký, Nxb QĐND, 2006);
Người đàn bà trước biển (tập truyện, Nxb QĐND, 2007);
Cao hơn bầu trời (Kịch bản phim truyện, 50 tập, Hãng Phim Giải phóng, 2012);
Đất lành (tập truyện, Nxb QĐND, 2014); 
Một thoáng đất và người (tập ký, Nxb QĐND, 2014)

Giải thưởng văn học:

- Giải Nhì truyện ngắn Cây bút vàng (1996-1998) của Hội Nhà văn VN và Bộ Công an.
- Giải Nhất cuộc thi ký Khánh Hoà xưa và nay của Hội VHNT Khánh Hoà.

Quan niệm văn học:

Tôi được sinh ra ở một cái làng nhỏ bên bờ sông Lam hiền hòa mà dữ dội. Tuổi thơ tôi lấm láp phù sa, chen lẫn trong đó là bom đạn mù trời của giặc Mỹ. Giờ đây, ba phần tư cái làng quê ấy đã vĩnh viễn chìm lỉm dưới đáy dòng Lam biêng biếc xanh. Nỗi đau và niềm tiếc nuối ấy đã thôi thúc tôi cầm bút với ước muốn tái hiện và lưu giữ lại cho các con tôi chút hình bóng của quê cha đất tổ. Ám ảnh trong các trang viết của tôi bao giờ cũng là hình ảnh người lính với tất cả chiều kích của họ, và những người phụ nữ phải gánh chịu nhiều hy sinh mất mát trong chiến tranh. Chắc chắn tôi sẽ còn viết mãi về họ với tất cả tình yêu và lòng kính trọng

Nguồn: NVTPHCM

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Thứ Ba, 4 tháng 12, 2018

Võ Chí Nhất có “Khiếu ăn mày”

Giá trị tư tưởng của “Khiếu ăn mày” chính là thông điệp yêu thương và nghĩa vụ, nếu người đọc biết yêu và có chút ít thẩm định văn học, sẽ dễ dàng thừa nhận. Về nghệ thuật văn chương, đã hình thành một cốt cách. Ở mỗi truyện, người đọc không chỉ theo dõi và cùng chia sẻ với những tình huống, những biến động bên ngoài hiện thực mà còn được dẫn dắt bởi những suy tư, những trăn trở, những tự vấn của mỗi kiểu nhân vật…
Nhà văn trẻ Võ Chí Nhất

Hai người ăn mày, một trẻ một già, một đàn ông con trai, một bà già lọm khọm, chọn nơi “đắc địa” làm “trận địa” hành nghề: cửa ngân hàng! Người thanh niên trẻ, ăn mặc còn tươm tất, biết tính toàn, phân tích từng khách hàng, vào ra nhà băng “định kỳ đáo hạn”, để làm thân, để mà xin tiền. Bên kia, bà già lấy “trang phục truyền thống” làm vũ khí: bẩn thỉu, rách rưới, quần áo “hàng tỷ năm không giặt”, biểu hiện sự nghèo khó khốn cùng của mình… ra hành nghề! Hiệu quả là “truyền thống” hơn hẳn “sự tính toán khoa học” ít ra là gấp 4 lần (bà cụ xin được từ một ông khách 200 ngàn, còn anh kia chỉ được 50 ngàn). Đến nỗi, anh trẻ ghen tức, xông vào giật túi tiền của “mụ già” vừa xin được. Hậu quả là anh ta bị bắt, và “mụ già” nhận ra anh thanh niên kia là con mình. Mụ phấn khích như cầu thủ vừa ghi bàn ở phút 89, rồi lảnh lót nói: “Tao nghĩ mày nên từ bỏ cái nghề này đi, mày không có khiếu ăn mày đâu con ạ!”.

Tóm lược truyện ngắn “Khiếu ăn mày” mà tác giả Võ Chí Nhất lấy làm tên chung cho tập truyện ngắn gồm 14 truyện của mình.

Tác giả Võ Chí Nhất còn trẻ, 25 tuổi tính đến hôm nay, là rất trẻ so với các hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng nếu người đọc đừng quá bận tâm chú ý đến tuổi tác và nghề nghiệp chính của anh, thì chúng ta sẽ đọc được những tác phẩm văn chương của một nhà văn, mà với độ chững chạc nghề văn, với sự tinh tế của cây bút dường như không còn “quá mới” qua tác phẩm của mình. Võ Chí Nhất làm nghề công an, một sĩ quan ngoại thành Củ Chi. Những người biết kỹ về anh, thường gán cho anh cái mác hình sự hoặc trinh thám. Tôi không nghĩ thế.
Tập truyện ngắn Khiếu ăn mày của Võ Chí Nhất

14 truyện ngắn (mỗi chuyện không dài, dường như chỉ vừa tầm một kỳ đăng báo) là một mảng cuộc sống khá phong phú, từ vùng ngoại ô nghèo khó (Đứa bé, Người đi trong bóng tối), đến đời sống thị dân muôn vẻ (Khiếu ăn mày, Anh em song sinh, Phiêu lưu trên thực đơn, Vợ ơi, dậy lấy chồng…). Truyện Điều ước đêm giáng sinh còn lấy bối cảnh nước ngoài, bằng một mô-tip quen thuộc…

Những truyện ngắn của Võ Chí Nhất thường tạo ra một tình huống, thậm chí chỉ một câu nói gây bấn, mà lại ẩn chứa một thông điệp giản dị mà nhân văn. Chẳng hạn như với truyện Đảo Ngọc lấp lánh, là một truyện ngắn dài nhất của tập này, in đậm chiến tích của anh công an kiêm nhà báo. Câu chuyện tưởng rồi sẽ dài dòng và dông dài, chỉ đến khi anh công an kiêm nhà báo công an bắt được kẻ ăn trộm, hắn chống cự:

“- Thì ra là cớm! Tao căm ghét bọn bay…

- Nếu không có màu áo xanh của tụi tao giữ bình yên cho xã hội này thì bọn bay có thể yên ổn mà đi ăn trộm của người ta à?”.

Hài hước! Nhưng nó vẫn chứa đựng một suy nghĩ, một tư duy dẫn dắt hành động của một nghề nghiệp, một hành động có trách nhiệm xã hội, như một thứ “phúc lợi” ưu việt.

Giá trị tư tưởng của “Khiếu ăn mày” chính là thông điệp yêu thương và nghĩa vụ, nếu người đọc biết yêu và có chút ít thẩm định văn học, sẽ dễ dàng thừa nhận.

Về nghệ thuật văn chương, đã hình thành một cốt cách. Ở mỗi truyện, người đọc không chỉ theo dõi và cùng chia sẻ với những tình huống, những biến động bên ngoài hiện thực mà còn được dẫn dắt bởi những suy tư, những trăn trở, những tự vấn của mỗi kiểu nhân vật. Xen lẫn với những trầm tư bi thiết, những hằn học oán thán, lại có những tình huống, lời thoại hài hước, gây bật cười. Mà tất cả đều được xử lý logic, không bị “phô”! (Anh em song sinh…)

Như tôi đã viết trên đây, Võ Chí Nhất đang là một sĩ quan công an. Công việc là vốn sống quan trọng nhất của một người viết văn. Tuy thế, người biết ít nhiều về tác giả này, thường hay ngả về phía coi đây là cây bút hình sự, mạo hiểm, thậm chí “chém giết, cướp, hiếp”. Có khi ngay trong tập sách này.

Chỉ làm phép số học thuần túy thôi, thấy rằng chỉ có 2/14 truyện có nhân vật là công an (Đảo Ngọc lấp lánh, Phi vụ hoàn hảo). Chắc chắn tỷ lệ này, chưa chắc ngành Công an đã thấy đủ điều kiện xếp cuốn này vào loại sác viết về ngành mình. Trong khi đó những truyện lấy đề tài về hội họa (Cái giá cho dự nổi tiếng, Tác phẩm cuối cùng) và âm nhạc (Người thợ chỉnh Violon).

Thôi, nhưng mà không nên quá tỉ mẩn, chẻ hoe, cố chấp, văn chương miễn là hay. Chỉ có điều, cái hay do văn chương đem lại không giống với sự hấp dẫn thô tháp, dễ dãi.

HOÀNG ĐÌNH QUANG

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Nhà văn Đoàn Thạch Biền: Người của miền Áo trắng

Trong trí tưởng của tôi không nghĩ có ngày được ông mời đi nhậu. Tôi, đang mon men đâu đó ngoài rìa văn chương, tập tành vài ba truyện ngắn, lại được nhà văn gạo cội, ông chủ của vựa văn chương tuổi mới lớn, theo cả nghĩa sản xuất lẫn đào tạo, mời nhậu, thì hỏi sao không bất ngờ?! Đấy là câu chuyện của 8 năm về trước, khi tôi đang lơ ngơ chân ướt chân ráo ở chơi Sài Gòn, chờ ngày về Bà Rịa - Vũng Tàu dạy học. Sau này mới biết, chuyện Đoàn Thạch Biền chủ động gặp gỡ các cây viết trẻ để tiếp lửa cho ngòi bút của họ là việc làm thường xuyên của ông.
Nhà văn Đoàn Thạch Biền

1. Chiều Sài Gòn. Tháng Mười một. Nắng thảnh thơi trên tán lá khế nơi quán Ruốc của nhà văn Mường Mán. Tôi, nửa hồi hộp nửa hân hoan xen lẫn ngượng ngùng và pha thêm chút hiếu kỳ, bởi ngay trước mặt là nhà văn Đoàn Thạch Biền. Dù trước đó 5 tháng, tôi cùng với đông đảo cộng tác viên của tập san Áo Trắng đã gặp ông, khi ông ra dự Festival Huế lần thứ 5. Lần ấy tôi chỉ dám kính nhi viễn chi. Ông hiện hữu đấy mà như… cao lắm và xa lắm.

Trong trí tưởng của tôi không nghĩ có ngày được ông mời đi nhậu. Tôi, đang mon men đâu đó ngoài rìa văn chương, tập tành vài ba truyện ngắn, lại được nhà văn gạo cội, ông chủ của vựa văn chương tuổi mới lớn, theo cả nghĩa sản xuất lẫn đào tạo, mời nhậu, thì hỏi sao không bất ngờ?! Đấy là câu chuyện của 8 năm về trước, khi tôi đang lơ ngơ chân ướt chân ráo ở chơi Sài Gòn, chờ ngày về Bà Rịa - Vũng Tàu dạy học. Sau này mới biết, chuyện Đoàn Thạch Biền chủ động gặp gỡ các cây viết trẻ để tiếp lửa cho ngòi bút của họ là việc làm thường xuyên của ông.

Lý lịch trích chéo của nhà văn Đoàn Thạch Biền đọc lên nghe rất… "Bắc Trung Nam sum họp một nhà, cao nguyên và biển gần xa đã từng". Thì đấy, ông sinh ở Nam Định, học tiểu học ở Hội An, học trung học ở Đà Nẵng, học đại học Văn khoa ở Sài Gòn, dạy Triết học ở Bình Thuận, làm nông dân trồng dâu ở Lâm Đồng, làm công nhân rồi làm báo Người lao động ở TP. Hồ Chí Minh.

Tiểu sử văn học của ông cũng gay cấn không kém. Viết văn, xuất bản sách, từng đoạt giải thưởng Văn học Nghệ thuật quốc gia (miền Nam) trước năm 1975 về kịch bản sân khấu với tên Nguyễn Thanh Trịnh. Hàng loạt tác phẩm của Đoàn Thạch Biền, chỉ cần đọc tựa thôi đã đủ sức gây tò mò cho bạn đọc mới lớn, từ "Ví dụ ta yêu nhau" đến "Bất ngờ phía trái tim", "Đừng đốt cháy bông hồng", rồi "Những ngày tươi đẹp", "Mùa hè khắc nghiệt", và "Tôi thương mà em đâu có hay", "Tôi hay mà em đâu có thương", "Tình nhỏ làm sao quên"…

Tôi vẫn nhớ cảm giác lần đầu tiên chạm vào thế giới văn chương Đoàn Thạch Biền. Huế buổi chiều năm hai đại học, mây bàng bạc gió lơ đễnh như chở nguyên vẹn sắc diện lưu cửu của mảnh đất cố đô, tôi bắt gặp tập truyện "Ví dụ ta yêu nhau" ở sạp sách báo cũ quen thuộc bên đường Nguyễn Trường Tộ, đối diện căn gác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn năm xưa, giờ gọi là gác Trịnh, nơi lưu niệm cố nhạc sĩ. Tập truyện từng được NXB Bạn Ngọc in năm 1974 tại Sài Gòn này được NXB An Giang in lại vào năm 1989 trong tình trạng không còn bìa. Bữa ấy, đêm đến, tôi bập vào 14 ví dụ về tình yêu, tức 14 truyện ngắn trong cuốn sách. Vừa đọc vừa cười, khi tủm tỉm khi phá lên thành tiếng, đến mức cậu bạn cùng phòng phải lại đặt tay lên trán xem tôi có bị làm sao không?

Không. Tôi chẳng sao. Đơn giản chỉ là tôi "phản ứng" với giọng văn nhẹ nhàng, đối thoại của các nhân vật dí dỏm, thông minh pha chút triết lý trong văn Đoàn Thạch Biền mà thôi. Cả cách ông cho nhân vật xưng "ông" và "em" nữa, là lạ, ngỡ xa mà lại gần, gợi khiêu khích. Kiểu xưng hô này, ở văn chương miền Nam trước đây, một vài tác giả khác cũng có dùng. Nhưng sau này chỉ còn thấy trong văn chương Đoàn Thạch Biền. Rõ ràng. Nhất quán. Mặc nhiên, người đọc xem như đây là dấu hiệu để nhận biết văn chương ông.
Xuyên suốt từ tập truyện đầu tay đến các tác phẩm sau này, dù cho bản thân tác giả phải lăn lộn thích ứng với nhiều môi trường sống khác nhau bởi sự biến thiên của thời cuộc, thì văn chương Đoàn Thạch Biền vẫn son sắc thủy chung một mực giành cho tuổi mới lớn. Như ông nói: "Đấy là những năm tháng yêu thương tưởng chừng như mộng ảo, nhưng cơn ngầy ngật đắm say vẫn còn rung động suốt đời người". Và ông tin đời sống hiện nay vẫn cần những rung động đó. Thực tế khẳng định điều ông nói là đúng, bởi tác phẩm của ông vẫn được các NXB và Công ty sách lâu lâu lại tái bản.

2. Không chỉ bạn đọc nhắc nhớ, Đoàn Thạch Biền còn được các thế hệ viết từ 7X trở về sau nhắc nhớ. Thập niên 90 thế kỷ trước là thời kỳ nở rộ văn chương tuổi mới lớn được viết bởi chính các cây viết tuổi mới lớn. Từ cái nôi của bút nhóm "Hương đầu mùa" báo Hoa học trò, bút nhóm "Vòm me xanh" báo Mực Tím và "Gia đình Áo Trắng" của tập san Áo Trắng. Trong đó Áo Trắng với sự "đỡ đầu" của NXB Trẻ, là tập san văn chương thuần túy duy nhất, do nhà văn Đoàn Thạch Biền làm chủ biên, với lượng phát hành lên tới 3 vạn bản/ số/ tháng.

Áo Trắng len lỏi tới hầu hết các địa phương, cùng với đó là mô hình "Gia đình Áo Trắng", nơi quy tụ các cây viết trẻ. Sinh hoạt rôm rả. Không khí văn chương thấm đẫm vào mỗi tâm hồn mộng trắng trong. Thời ấy, Thẻ thành viên "Gia đình Áo Trắng" được ký bởi giám đốc NXB Trẻ có giá trị tương đương như Thẻ sinh viên hay Chứng minh thư nhân dân, bởi có thể cắm Thẻ thành viên "Gia đình Áo Trắng" để… ăn cơm bụi như thường. Chính lò văn chương Áo Trắng này là nơi khởi đầu của nhiều nhà văn/ nhà thơ/ nhà báo 7X thành danh hiện nay, hoặc chí ít cũng có thời gian họ "gian díu", như: Dương Bình Nguyên, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phong Điệp, Vi Thùy Linh, Trang Hạ, v.v… Không ít người vẫn vẹn nguyên thổn thức khi nhớ lại những lá thư tay của nhà văn Đoàn Thạch Biền đong đầy tâm huyết, khích lệ động viên để họ dấn bước vào thế giới chữ nghĩa nhiều mê hoặc xúc cảm nhưng cũng đầy trở trăn mệt nhọc.

Rồi cơn bão thông tin của thế kỷ 21 ập đến, các loại hình giải trí "ăn nhanh" khác lên ngôi. Văn chương bị lấn át. Các bút nhóm lay lắt dần tan rã. Duy tập san Áo Trắng là vẫn được Đoàn Thạch Biền kiên tâm chăm chút. Áo Trắng chuyển "mẹ đỡ đầu" từ NXB Trẻ sang Báo Tuổi Trẻ rồi lại trở về NXB Trẻ. Chắc chỉ Đoàn Thạch Biền mới có đủ uy tín và "được thương" để làm nổi những cuộc thiên di ấy. Nhờ vậy, thêm hàng loạt các cây viết trẻ 8X, 9X được Áo Trắng và Đoàn Thạch Biền điểm tên, đẩy vào đường băng con chữ. 

3. Đoàn Thạch Biền có thể từ chối các cuộc gặp gỡ ở đâu đó không biết, riêng với các bạn viết trẻ tôi chưa thấy ông chối từ bao giờ. Áo pull đóng thùng với quần jean. Mái tóc bum - bê kiểu Beatles 45 năm trước luôn đen nhánh. Ông trẻ trung phó mặc thời gian. Không tin được đấy lại là hình ảnh của người sinh sau nạn đói Ất Dậu có 3 năm, 1948. Thi thoảng, giữa các cuộc ồn ào ông hay ngồi lặng lẽ, nhả hơi thuốc và nhìn lơ đãng. Nếu ai đó mượn vài ly mà bốc quá, đi hơi xa… sự thật, ông chỉ khẽ cười hấc lên cái rồi thôi. Khi ấy, chẳng hiểu sao, tôi lại thấy rõ nhất một người học Triết ở ông.

Và trong các cuộc vui văn nghệ, Đoàn Thạch Biền khi bắt buộc phải đóng thế vai nhà thơ lại khiến nhiều người giật mình và tủm tỉm. Thơ ông như văn ông vậy. Liên tưởng lạ. Cách diễn đạt lí lắc. Thông minh. Ví như: "Em vô tư, tôi vô tư/ Ta vô tư quá làm hư cuộc tình", hay "Em đơn giản hóa mọi điều/ Em đơn giản quá làm nhiều người đau", rồi "Cám ơn em yêu lòng vòng/ Giúp tôi quanh quẩn đời rong rêu thừa", hoặc "Mưa nhòe chiều Chủ nhật/ Qua sông. Thứ Hai rồi/ Ở vòm trời sáng đó/ Mưa cũng vừa quên tôi".

Có độc giả hỏi Đoàn Thạch Biền, rằng ông tâm đắc với tác phẩm nào của mình nhất? Ông bảo là "Ví dụ ta yêu nhau", tập truyện đầu tay, nó giống như mối tình đầu đã mất. Tuy còn ngây ngô vụng dại nhưng để lại những kỷ niệm đẹp khó quên. Còn hỏi bạn đọc tâm đắc với tác phẩm nào của Đoàn Thạch Biền, phần đa nhận được câu trả lời là truyện vừa "Tình nhỏ làm sao quên". Chính từ truyện này Đoàn Thạch Biền chấp bút thành kịch bản phim truyện video cùng tên được Hãng phim Giải phóng sản xuất với đạo diễn Lê Hoàng Hoa (đạo diễn series phim "Ván bài lật ngửa") đã giành 2 huy chương vàng tại Liên hoan phim lần thứ 9 (1993), và là bệ phóng để diễn viên nữ chính Mỹ Duyên từ diễn viên múa bước vào làng điện ảnh, nổi tiếng cho đến nay.

4. Vài năm trở lại đây, nhà văn Đoàn Thạch Biền còn được biết đến là người cùng với nhà văn Nguyễn Đông Thức thực hiện chương trình từ thiện Mô - tô học bổng. Hai nhà văn "già gân" này tự bỏ tiền túi và kêu gọi bạn hữu ủng hộ, rồi chạy mô - tô đi trao học bổng cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Dần dần thêm các Mạnh Thường Quân, thêm bạn bè trong và ngoài nước ủng hộ, chương trình từ thiện khởi đi từ các tỉnh miền Tây, sang các tỉnh miền Đông, rồi lên Tây Nguyên, ra miền Trung và vươn xa tới cả Tây Bắc.

Vậy là, sau các trang văn giành cho lứa tuổi áo trắng, sau tập san văn chương Áo Trắng, Đoàn Thạch Biền lại cùng người bạn văn chương của mình viết tiếp giấc mơ đến trường cho các em tuổi áo trắng. Dường như, ông là người của miền Áo Trắng!

VĂN THÀNH LÊ
Nguồn: NVTPHCM

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2018

Về giao lưu văn học Việt-Hàn và một số đề xuất trong công tác dịch thuật văn học Hàn Quốc tại Việt Nam

“Nhu cầu hiểu biết lẫn nhau qua văn học đáp ứng những vấn đề thực tiễn trong quan hệ Việt - Hàn. Và như thế, dịch thuật được xem là cửa ngõ của hành trình giao lưu văn hóa. Dịch thuật nghiêm túc phải bắt nguồn từ ý thức văn hóa. Việc dịch văn học và giới thiệu văn hóa nước ngoài phù hợp với tâm thức văn hóa nước mình vô cùng quan trọng”- nhà lý luận phê bình trẻ Trần Xuân Tiến trình bày trong tham luận tại Hội thảo quốc tế “Triển vọng giao lưu văn học Việt - Hàn” vừa tổ chức ở TP.HCM.
 Nhà lý luận phê bình Trần Xuân Tiến trình bày tham luận 
Hội thảo văn học Việt - Hàn tại TPHCM 23.11.2017

1. Giao lưu văn học Việt - Hàn: Một tín hiệu của xu hướng toàn cầu hóa trong văn học 

1.1. Ở một khía cạnh nhất định, giao lưu văn học có thể được nhìn nhận với tư cách là sự tự ý thức về chính văn học thông qua việc thể hiện song song hai nhu cầu tưởng chừng như đối nghịch là nhu cầu tìm hiểu, tiếp nhận có chọn lọc những tinh hoa của đối tượng khác (tha nhân) và nhu cầu giới thiệu, quảng bá những giá trị riêng có của bản thân. Hai nhu cầu ấy, tùy theo bối cảnh chính trị - xã hội, tùy theo tư duy của những người trong cuộc mà có lúc bên nặng bên nhẹ khác nhau. Hai nhu cầu ấy, thú vị thay, lại rất phù hợp với tích cách/ bản chất của quá trình toàn cầu hóa (Globalization). Toàn cầu hóa là khái niệm được đặt ra nhằm biểu đạt sự trao đổi, liên kết đang ngày càng được tăng cường giữa các quốc gia, các khu vực, các vùng lãnh thổ. Thuật ngữ này xuất hiện vào những năm 50 và được sử dụng một cách phổ biến từ những năm 90 của thế kỷ trước. Những hiệu quả mà toàn cầu hóa mang lại đã khiến cho quá trình của chính nó trở thành một xu thế tất yếu. Trong hành trình của toàn cầu hóa, của giao lưu văn học, dịch thuật có vai trò hết sức đặc biệt. Bởi vì, một trong những biểu hiện cụ thể dễ nhận thấy của xu hướng toàn cầu hóa chính là sự gia tăng quá trình trao đổi văn hóa, trong đó có xuất khẩu các văn hóa phẩm, cụ thể là tác phẩm văn học.

Tuy là hai nước Đông Á cách xa nhau về khoảng cách địa lý, nhưng Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng về các yếu tố địa - chiến lược, địa - lịch sử, địa - văn hóa (mà yếu tố đồng văn thường được nhấn mạnh hơn cả). Lịch sử bang giao song phương ở riêng lĩnh vực văn hóa giữa hai nước Việt – Hàn (thời điểm này là cả bán đảo Triều Tiên) đã được hình thành từ thế kỷ XIV nhưng phải đến giữa thế kỷ XX, công tác dịch văn học của hai nước mới có dấu hiệu của sự khởi động. Với việc chính thức thiết lập mối quan hệ ngoại giao qua Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ vào ngày 22/12/1992, hoạt động dịch thuật và giới thiệu văn học Hàn Quốc ở Việt Nam thực sự đi vào quỹ đạo của sự phát triển. Tháng 8/2001, hai nước đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI, và đến tháng 10/2009 tiếp tục nâng cấp thành Đối tác hợp tác chiến lược. Chính những cơ sở chính trị này đã tạo tiền đề cho quá trình giao lưu văn học Việt - Hàn phát triển.

Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, tính đến tháng 11/2016, đã có gần 130 đầu sách văn học Hàn Quốc được dịch và giới thiệu ở Việt Nam. Hiện nay, nhiều đơn vị xuất bản có định hướng đẩy mạnh công tác dịch văn học Hàn, nổi bật là Công ty cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam (Hà Nội) và Nhà xuất bản Trẻ (TP.HCM) với nhiều ấn phẩm cập nhật tình hình văn học đương đại ở Hàn Quốc. Trong tâm thế tạo sự “thông hiểu, hợp lực để cùng phát triển”, ngoài hoạt động giảng dạy, Trung tâm Ngôn ngữ tiếng Hàn tại TP.HCM từng tổ chức dịch và phát hành miễn phí tập sách Những bài thơ hay của văn học hiện đại Hàn Quốc. Sách tập hợp 60 bài thơ được cho là tiêu biểu của Hàn Quốc với lời dịch Việt ngữ trong sáng, gần gũi kèm hình minh họa đặc sắc, quyển sách thật sự là tài liệu hữu ích để độc giả Việt Nam tiếp cận với thơ ca Hàn Quốc.

Không cần đến một cuộc khảo sát xã hội học, nhìn qua thực trạng nêu trên (trên bình diện xuất bản) chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy của văn học Hàn Quốc có vai trò khá mờ nhạt so với các sản phẩm văn hóa khác (phim truyền hình, điện ảnh, thời trang, ẩm thực…) trong đời sống tinh thần của đại chúng Việt trong sự tiếp nhận văn hóa Hàn Quốc.

Câu chuyện về giao lưu văn học Việt - Hàn còn thể hiện ở các hoạt động tiếp nhận của giới nghiên cứu. Song song với các lĩnh vực kinh tế, triết học, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật, công tác nghiên cứu văn chương hai nước Việt Nam - Hàn Quốc cũng đi vào phác thảo quan hệ so sánh, đối chiếu trong tâm thế tìm ra những điểm tương đồng dị biệt giữa hai dân tộc, kết nối nhau bằng những liên hệ đồng dạng, khẳng định những giá trị cốt lõi riêng biệt. Đề án Phát triển tài nguyên nghiên cứu và giảng dạy văn học Hàn Quốc ở Việt Nam [AKS-2012-BBZ-211] đang dần được hiện thực hóa bởi hàng loạt các hội thảo, tọa đàm lớn nhỏ như: Hội thảo khoa học quốc tế Văn học Hàn Quốc trong bối cảnh châu Á(tháng 01/2014), Hội thảo khoa học quốc tế Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ pháp tiếng Hàn và Văn hóa - Xã hội Hàn Quốc (tháng 8/2016) v.v..

Trường ĐH KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội là một trong những địa chỉ mạnh về công tác nghiên cứu Hàn Quốc. Các Hội thảo Dịch thuật văn học Hàn Quốc tại Việt Nam (tháng 11/2014), Văn học Hàn Quốc tại Việt Nam (tháng 11/2015, phối hợp với Viện Dịch thuật Văn học Hàn Quốc) thu hút được nhiều nhà nghiên cứu, giảng dạy, nhiều dịch giả Hàn Quốc và Việt Nam quan tâm tham dự.

Gặp gỡ văn chương Việt Hàn - Korean Vietnam literary exchange event là chương trình được tổ chức thường niên bởi sự phối hợp thực hiện giữa Viện Dịch thuật Văn học Hàn Quốc한국문학번역원và Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG TP.HCM. Chương trình được khởi động vào năm 2014 với buổi giao lưu giữa hai tác giả Nguyễn Ngọc Tư và Kim Young-ha. Theo sau đó là các buổi giao lưu giữa tác giả Hồ Anh Thái và Jeong You-jeong (2015), tác giả Võ Diệu Thanh và Hwang Sun-mi (2016). Cũng nằm trong khuôn khổ của chương trình này, các buổi tọa đàm với chủ đề Phương hướng tăng cường trao đổi, hợp tác dịch thuật và giới thiệu văn học góp phần xúc tiến quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc (2015), Xúc tiến giao lưu văn học dịch Việt Nam - Hàn Quốc (2016) đã tạo cơ hội cho các bên trong lĩnh vực văn chương trao đổi, tổng kết, xúc tiến hoạt động kết nối giao lưu.

Bên cạnh hai đơn vị nêu trên, công tác giao lưu văn học Việt - Hàn còn được đẩy mạnh bởi nhiều đơn vị khác như: Hội Nghiên cứu khoa học về Hàn Quốc của Việt Nam (Korean Research Association of Vietnam - KRAV), Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), các trường Đại học, Cao đẳng có giảng dạy Hàn Quốc học v.v..1

Như vậy, từ lĩnh vực xuất bản đến nghiên cứu chuyên ngành, hoạt động giao lưu văn học Việt - Hàn đã có một diện mạo chung tương đối sôi động và có tiềm năng được đẩy mạnh trong tương lai.

1.2. Khái niệm giao lưu (exchange) tự trong nội hàm của nó đã định hướng đến sự đối thoại và hợp tác từ hai phía. Tuy vậy, tình hình tiếp nhận văn học Việt Nam ở Hàn Quốc đang trong tình trạng trầm lặng hơn so chiều hướng ngược lại. Hiện nay, (theo thông tin chúng tôi tổng hợp từ internet), số lượng tác giả Việt Nam có tác phẩm được dịch ở Hàn Quốc chỉ vỏn vẹn một vài tên tuổi. Có thể kể đến như các nhà văn Bảo Ninh, Văn Lê, Nguyễn Ngọc Tư, Hồ Anh Thái và nhà thơ Hữu Thỉnh. Về công tác nghiên cứu, trong bài viết Tình hình nghiên cứu văn học Việt Nam ở Hàn Quốc vào năm 2008, GS.TS. Kim Ki-tae đã thẳng thắn chia sẻ: “Ở Hàn Quốc, số lượng học giả nghiên cứu về văn học Việt Nam rất ít. Văn học hiện đại thì càng ít”. Trước thực trạng có phần “tẻ nhạt” đó ông bày tỏ mong muốn “trong tương lai sẽ có thêm nhiều nghiên cứu về văn học Việt Nam tại Hàn Quốc cùng hòa với việc nghiên cứu văn học Trung Quốc, Đông Bắc Á2. Gần mười năm đã trôi qua tính từ lúc GS.TS. Kim Ki-tae viết nhận định này, khung cảnh tiếp nhận văn học Việt Nam ở Hàn Quốc, trong chừng mực nhất định, có thể nói, tuy có ít nhiều biến chuyển nhưng vẫn chưa tương ứng với tiềm năng vốn dĩ. Thực tế, hiện trạng nghiên cứu này vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của những người trong cuộc. Một điểm đáng chú ý là trong khi Viện Dịch thuật Văn học Hàn Quốc đã tổ chức trao giải thưởng văn học dịch cho các dịch giả Việt Nam dịch xuất sắc các tác phẩm văn học Hàn Quốc sang tiếng Việt3 thì các dịch giả dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Hàn Quốc chưa có được sự khích lệ tương tự.

2. Một số đề xuất đối với công tác dịch văn học Hàn Quốc tại Việt Nam

So với văn học dịch các nước khác ở Việt Nam, nhất là văn học Trung Quốc, văn học Nhật Bản, văn học dịch Hàn Quốc được xem là khá non trẻ. Vì vậy, rất cần quan tâm đến những kinh nghiệm từ văn học dịch Trung Quốc, Nhật Bản ở Việt Nam. Xem xét những kinh nghiệm này, kết hợp với việc quan sát tình hình dịch thuật văn học Hàn Quốc ở Việt Nam, chúng tôi đề xuất một số ý kiến nhằm hướng đến một hình ảnh văn học dịch Hàn Quốc ở Việt Nam đa màu sắc, đáp ứng mong mỏi của tác giả lẫn người đọc.

2.1. Về việc lựa chọn tác phẩm để dịch và xuất bản

Khi xem xét những tác giả, tác phẩm văn học Hàn Quốc được chọn dịch và giới thiệu ở Việt Nam, dễ dàng nhận thấy sự thiên lệch về văn học cận đại, về các trường phái hiện thực chủ nghĩa và tự nhiên chủ nghĩa. Chỉ khoảng ba năm trở lại đây, tình hình này mới có chiều hướng thay đổi khi hàng loạt các tác phẩm đương đại của văn học Hàn Quốc được dịch và giới thiệu đến độc giả Việt Nam. Điều này một phần là do ý thức, chủ đích của dịch giả, một phần cũng là do những tác giả, tác phẩm dán nhãn bestseller (bán chạy) khi tạo được hiệu ứng tốt ở Hàn Quốc tất nhiên sẽ dễ dàng du hành tới công chúng Việt Nam. Đây là tín hiệu đáng mừng để tạo nên một bức tranh văn học dịch Hàn Quốc ở Việt Nam đa màu sắc, phong phú về đề tài cũng như phong cách nghệ thuật. Tuy vậy, cũng cần tránh sa đà, chạy theo các tác phẩm đương đại mang nặng tính thị trường gây nhiễu loạn không gian đọc (như đã từng xảy ra với trường hợp văn học dịch Trung Quốc, Nhật Bản ở Việt Nam).

Từ lập trường của các tổ chức giao lưu văn hóa, văn học Hàn Quốc, theo chúng tôi, khi lựa chọn tác phẩm để dịch và giới thiệu ở Việt Nam cần quan tâm song song hai vấn đề chính. Một là, Hàn Quốc muốn độc giả Việt Nam hiểu về đất nước Hàn, văn hóa Hàn như thế nào, đâu là điểm riêng có, là “bộ nhận diện” quốc gia của xứ Kim Chi? Hai là, cần chú trọng đến nhu cầu, thị hiếu đọc của độc giả Việt Nam khi tìm hiểu về đất nước con người Hàn Quốc. Từ đó, xây dựng kế hoạch dịch và giới thiệu đa dạng các thể loại, các xu hướng sáng tác để tạo nên cái nhìn đầy đủ hơn về diện mạo văn học Hàn Quốc. Còn đứng về phía các đơn vị dịch và giới thiệu tác phẩm văn học Hàn Quốc ở Việt Nam cũng phải lưu tâm chú ý đến việc đón nhận những điểm tích cực, hạn chế tiếp thu những điểm không phù hợp với văn hóa quốc gia. Cần linh hoạt và cập nhật trong lựa chọn tác phẩm dịch theo hướng duy trì cân đối giữa các sách khó đọc, mang tính hàn lâm với văn học giải trí. Việc dung hòa hai khía cạnh này vừa phải đảm bảo tính đại chúng, vừa phải đảm bảo nét tinh hoa để đáp ứng đồng thời hài hòa cả nhu cầu là nghiên cứu chuyên môn lẫn kiến thức thường thức phổ thông.

Trong quá trình giao lưu văn học, văn hóa Việt – Hàn, cần tránh thiên vào việc nhận diện những điểm tương đồng mà còn phải luôn ý thức việc chỉ ra những nét khác biệt giữa văn hóa, văn học hai nước. Từ đó, một mặt thấy rõ những điểm sáng của văn học nước bạn, mặt khác, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc phát triển văn học nước mình. Nếu trước đây trong lịch sử Việt Nam, các bậc hiền nhân đi trước lấy Nhật Bản làm tấm gương cho phong trào Duy Tân thì ngày nay, người Việt Nam đang xem sự thành công của kinh tế và văn hóa Hàn Quốc làm tấm gương cho mình. Trong tâm thế đó, rất cần hướng tới việc xây dựng những dự án dịch thuật và xuất bản mang tính hệ thống, có sự hợp tác giữa tổ chức tài trợ với các đơn vị thụ hưởng.

Sự phối hợp với các chuyên gia, giáo sư về văn học Việt Nam ở Hàn Quốc khi lựa chọn tác phẩm để dịch và giới thiệu ở Việt Nam cũng cần được chú ý. Với đặc thù công việc, đặc thù chuyên môn, họ sẽ đưa ra những gợi ý thú vị về việc lựa chọn tác phẩm dịch phù hợp với sự tiếp nhận của độc giả Việt Nam. Nhất là khi dịch các tác phẩm văn học cổ của Hàn Quốc, sự cộng tác của các chuyên gia Việt Nam có hiểu biết về văn học Hán văn với các chuyên gia về Việt Nam của Hàn Quốc hẳn sẽ mang lại những kết quả cao.

Trong quá trình thực hiện các khóa luận, luận văn, luận án, sinh viên, học viên, các nhà nghiên cứu, học giả đã dịch nhiều tác phẩm văn học Hàn Quốc. Tìm kiếm những bản dịch có chất lượng cao và xúc tiến công tác in ấn thành xuất bản phẩm đối với những bản dịch này là việc nên làm.

Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến công tác tái bản một số tác phẩm Hàn Quốc đã từng được giới thiệu ở Việt Nam. Ví dụ như tác phẩm Truyện Xuân Hương춘향전春香傳 (Bae Yang Soo dịch) đã được xuất bản từ năm 1994 chỉ với 500 bản, không bán mà chỉ gửi tặng cho những cơ quan và cá nhân nghiên cứu liên quan tới Hàn Quốc. Qua hai mươi hai năm chưa tái bản nên việc tìm đọc tác phẩm kiệt tác này đối với độc giả Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Các bản dịch có trên internet thì thường không đầy đủ hoặc có thiếu xót, chỉnh sửa sai lệch. Như vậy, tái bản là việc làm phù hợp và cần thiết. Ưu tiên trước mắt đối với những tác phẩm là kiệt tác của văn học Hàn Quốc và những tác phẩm được đông đảo bạn đọc Việt Nam yêu thích. 

2. 2. Về đội ngũ dịch thuật

Dịch phẩm văn học Hàn Quốc ở Việt Nam ngày càng nhiều nhưng lại hiếm những tác phẩm dịch hay, thật sự để lại hiệu ứng tốt trong lòng người đọc. Một phần nguyên nhân của thực trạng này bắt nguồn từ phía dịch giả. Đội ngũ dịch giả các tác phẩm văn học Hàn Quốc hiện nay phần đông là những người trẻ, thường mạnh về ngoại ngữ hơn là được đào tạo chuyên sâu về văn chương. Chính vì thế, công tác đào tạo cơ bản trong lĩnh vực dịch thuật văn học Hàn Quốc tại Việt Nam rất cần được quan tâm định hướng, đẩy mạnh hơn nữa việc hình thành đội ngũ người dịch gắn bó với từng mảng sách riêng.

Năm 2011, Viện Dịch thuật Văn học Hàn Quốc và Bộ môn Hàn Quốc học, Trường Đại học KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM (nay là Khoa Hàn Quốc học) đã phối hợp tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề Dịch văn học và văn học dịch Hàn Quốc ở châu Á. Hội thảo không chỉ thu hút sự tham dự của các học giả – dịch giả Việt Nam mà còn có sự hiện diện của nhiều chuyên gia đến từ các nước châu Á như Trung Quốc, Mông Cổ, Thái Lan, Đài Loan… Chuỗi chương trình Giao lưu văn chương Việt - Hàn hàng năm (bắt đầu từ năm 2014) được tổ chức tại TP.HCM cũng đã thiết kế các buổi tọa đàm về dịch thuật văn học Hàn Quốc tại Việt Nam. Như vậy, đã có các hội thảo, tọa đàm về dịch thuật văn học Hàn Quốc nhưng vẫn còn trong con số khiêm tốn, chưa đáp ứng kịp thời so với sự phát triển của tình hình dịch. Phải xác định những hội thảo, tọa đàm như vậy chính là cơ hội để các bên có liên quan cùng nhau bàn luận, thống nhất những quan điểm về dịch tác phẩm văn học Hàn Quốc nói riêng, dịch thuật nói chung, là dịp để các dịch giả được cất lên tiếng nói của mình, để những tâm tư được gợi mở và hiện thực hóa.

Đầu tháng 11/2015, tại Seoul (Hàn Quốc), Quỹ dịch thuật Văn học Hàn Quốc đã tổ chức lễ trao giải cho 6 dịch giả đã chuyển thể xuất sắc 4 tác phẩm văn học Hàn Quốc sang ngôn ngữ của đất nước sở tại, trong đó có dịch giả Vũ Kim Ngân của Việt Nam, với cuốn tiểu thuyết 7 năm bóng tối 7년의 của nhà văn Jeong You Jeong정유정. Được tổ chức thường niên, bắt đầu từ năm 2002, đây là giải thưởng trao cho các tác phẩm dịch văn học Hàn xuất sắc được xuất bản bên ngoài lãnh thổ Hàn Quốc. Sự ra đời của giải thưởng không chỉ cho thấy sự trân trọng của Hàn Quốc dành cho các dịch giả mà còn phản ánh tinh thần quảng bá văn học của xứ sở Kim Chi. Đây là một kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam. Thực tế ở nước ta hiện nay, xã hội vẫn còn thiếu nhận thức và quan tâm về các dịch giả, các dịch giả còn gặp nhiều khó khăn trong công việc như: không có bằng cấp chứng nhận dịch giả, ít cơ quan tài trợ và ủng hộ quyền lợi dịch giả. Cần lắm những động thái tích cực từ các cơ quan quản lý văn hóa, các tổ chức nghề nghiệp… Khó khăn với con đường dịch thuật là vậy, nhưng các dịch giả lại mang trong mình trọng trách vô cùng ý nghĩa, họ chính là những cầu nối văn hoá trong sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia. Trách nhiệm đó cần được ý thức và thực hiện.

2.3. Cầu nối văn hóa và sự giao lưu hai chiều

Quá trình dịch thuật văn học nước ngoài ở Việt Nam phải được nhìn nhận là hoạt động hết sức đặc thù. Dù các hiện tượng văn hóa bề ngoài có thể khác nhau, nhưng giữa các dân tộc có điểm giống nhau sâu sắc là sự giữ gìn những phẩm chất nhân văn. Đặc biệt, văn học như cội rễ của văn hóa dân tộc lại càng như vậy. Biên dịch văn chương đóng vai trò liên thông giữa các ngôn ngữ khác biệt, mang lại sự thấu hiểu lẫn nhau giữa các dân tộc, khẳng định điểm chung giữa các nền văn học. Không chỉ nhằm bảo lưu tính đa dạng của nhân loại, dịch thuật đồng thời còn làm giàu thêm kho tàng văn hóa của loài người. Thực tế cho thấy, trong quá trình dịch thuật, nhiều yếu tố tương đồng về văn hóa xã hội giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã được thể hiện. Qua đó, lý giải phần nào sự tiếp nhận mạnh mẽ của độc giả Việt Nam đối với các tác phẩm văn học Hàn Quốc. Chính sự vừa tương đồng vừa khác biệt đã tạo sự thu hút như thể chúng ta tìm hiểu về một người bạn vừa lạ vừa quen, vừa bỡ ngỡ vừa thân tình. Mặt khác, văn chương Hàn Quốc cũng phản ánh quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây. Sự tiếp nhận ấy, Việt Nam cũng chung một hoàn cảnh. Và vì cùng chung hoàn cảnh nên những thành công của Hàn Quốc cần được xem là những kinh nghiệm cho Việt Nam tìm hiểu và nghiên cứu.

Nhu cầu hiểu biết lẫn nhau qua văn học đáp ứng những vấn đề thực tiễn trong quan hệ Việt - Hàn. Và như thế, dịch thuật được xem là cửa ngõ của hành trình giao lưu văn hóa. Dịch thuật nghiêm túc phải bắt nguồn từ ý thức văn hóa. Việc dịch văn học và giới thiệu văn hóa nước ngoài phù hợp với tâm thức văn hóa nước mình vô cùng quan trọng. Ngoài ra, công việc dịch thuật cần dựa trên cơ sở hiểu rõ các trách nhiệm với các vấn đề lịch sử, tôn trọng lịch sử để cùng nhau không ngừng củng cố và xây đắp mối quan hệ hợp tác tốt đẹp. Theo Lee Han-woo và Bùi Thế Cường, trong quyển sách Việt Nam - Hàn Quốc: Một phần tư thế kỷ chia sẻ cùng phát triển, có một số tác phẩm văn học Hàn Quốc viết về Việt Nam, phản ánh nhận thức của người Hàn về đất nước Việt Nam. Hai tác phẩm Tháp(xuất bản năm 1970), Cái bóng của vũ khí 무기의 그늘 (1985) của nhà văn Hwang Sok Yong황석영và tác phẩm Người da vàng 힁색인 (1970) của Lee Sang Moon đều thể hiện nhận thức chống chủ nghĩa đế quốc, phê phán cái nhìn sai lệch của người lính Hoa Kỳ về văn hóa Việt Nam. Tác phẩm Chiến tranh trắng하얀 전쟁 (1983) của Ahn Jung Hyo안정효, Huân chương và xiềng xích     (1987) của Lee Won Kyu cùng tập trung vào vấn đề cá nhân của những người lính Hàn từng tham chiến tại Việt Nam. Ngoài ra, cảm quan hậu chiến bắt nguồn từ chiến tranh Việt Nam, tinh thần tự vấn và hòa giải cũng xuất hiện trong một số tác phẩm văn học Hàn Quốc như: Áo dài đỏ 붉은 아오자이 (1995) của Oh Hyun Mi, Cuộc chia ly buồn애별 (2002) của Ku Hyo Seo, Slow Bullet슬로우 불릿 (2001) của Lee Dae Hwan이대환… Thiết nghĩ, các tác phẩm thuộc những đề tài này rất nên được dịch sang tiếng Việt để độc giả Việt Nam hiểu hơn về quá trình thay đổi nhận thức về Việt Nam của người Hàn.

TRẦN XUÂN TIẾN
Giảng viên Khoa KHXH&NV
Trường Đại học Văn Hiến

Chú thích:

Tháng 6/2014, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á và Viện Nghiên cứu Hàn Quốc học Trung ương (Academy of Korean Studies) phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế Nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam: Thành quả và phương hướng; Tháng 5/2016, Trường Đại học Đà Lạt (Lâm Đồng) tổ chức Tọa đàm khoa học quốc tế So sánh văn học Việt Nam - Hàn Quốc… cũng thu hút được nhiều nhà khoa học, chuyên gia hai nước tham dự.

Kim Ki-tae, Tình hình nghiên cứu văn học Việt Nam ở Hàn Quốchttp://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/vhvn-nhung-van-de-ch..., truy cập ngày: 25/9/2016.

Kể từ năm 2002, Viện Dịch thuật Văn học Hàn Quốc tổ chức giải thưởng thường niên cho các tác phẩm dịch văn học Hàn và xuất bản ngoài lãnh thổ Hàn Quốc ở năm trước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Phan Thị Thu Hiền (2014), “Giao lưu dịch thuật văn học giữa Việt Nam và Hàn Quốc với vai trò “cửa sổ văn hóa””, Tuần báo Văn nghệ TP.HCM, Số 327 (ngày 13/11/2014).
2. Kim Ki-tae, Tình hình nghiên cứu văn học Việt Nam ở Hàn Quốchttp://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/vhvn-nhung-van-de-ch..., truy cập ngày: 25/9/2016.
3. Lee Han-woo, Bùi Thế Cường - Đỗ Ngọc Luyến, Nguyễn Thị Hiền dịch (2015), Việt Nam - Hàn Quốc: Một phần tư thế kỷ chia sẻ cùng phát triển, NXB ĐHQG TP.HCM, TP.HCM.
4. Nguyễn Thị Thắm chủ biên (2015), Nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam: Thành quả và phương hướng, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
5. Trần Thúc Việt (2009), “Nghiên cứu văn học Hàn Quốc tại Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tiếng Hàn Quốc, Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội, http://data.ulis.vnu.edu.vn/jspui/handle/123456789/1308; ngày truy cập: 11/11/2015.


TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM KHÁC:



BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...