Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

Nguyễn Tất Nhiên: Một đời thơ bi thiết


Vừa qua, trong danh sách những ca khúc của Phạm Duy được duyệt cho lưu hành rộng rãi có bốn ca khúc Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên là Thà như giọt mưa, Cô Bắc kỳ nho nhỏ, Em hiền như ma-xơ, Anh vái trời...
Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ.

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm. Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài Vì tôi là linh mục tuyệt hay: “Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”… Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

Đòi nhuận bút những bài thơ phổ nhạc

Tôi quen Nguyễn Tất Nhiên khoảng đầu năm 1971, khi Nhiên đến tòa soạn tặng tôi tập thơ Thiên tai. Sau đó tôi thường gặp Nhiên ở nhà Du Tử Lê. Gọi là nhà nhưng đó chỉ là một căn phòng nhỏ trong cư xá Bưu Điện, đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), nơi vợ chồng Du Tử Lê thuê ở tạm trong thời gian chờ mua nhà ở làng báo chí. Căn phòng chỉ rộng chừng vài chục mét vuông mà chị Thụy Châu, vợ Du Tử Lê, vừa làm nơi nấu nướng, ăn ngủ, tiếp khách. Vậy mà mỗi lần Nhiên đến ngủ lại, chiếm cái bàn viết của anh Lê, ngồi làm thơ, cả đêm uống trà, cà phê, hút thuốc khói bay mù mịt cả căn phòng.

Theo lời Du Tử Lê thì anh là người chọn và đưa những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên cho Phạm Duy phổ nhạc. Nổi tiếng nhưng Nhiên vẫn nghèo kiết xác. Rồi không biết ai “xúi” Nhiên đòi Phạm Duy trả tác quyền mấy bài thơ phổ nhạc bởi Nhiên khá ngây thơ, chẳng quan tâm chuyện gì ngoài chuyện làm thơ. Về sau tôi mới biết là do Lê Cung Bắc. Lê Cung Bắc kể chuyện anh quen Nhiên: Một lần anh đến Biên Hòa, vừa xuống xe thì có một thanh niên cao, gầy, rất lãng tử bước đến hỏi: “Có phải anh là Lê Cung Bắc?”, Bắc gật đầu. Lê Cung Bắc bấy giờ là diễn viên kịch nói tên tuổi, thường xuất hiện trên truyền hình nên nhiều người biết. Chàng thanh niên tự giới thiệu là Nguyễn Tất Nhiên. Bắc đã đọc và thích thơ Nhiên nên từ đó hai người thân với nhau. Biết được chuyện Phạm Duy phổ nhạc thơ Nhiên nhưng không hỏi và cũng không trả đồng nhuận bút nào, Lê Cung Bắc bèn đưa Nhiên đến gặp Chu Tử, chủ bút nhật báo Sóng Thần, bởi Bắc có tên trong nhóm chủ trương báo này. Nhà văn Chu Tử, tác giả những tiểu thuyết nổi tiếng Sống, YêuGhen,Loạn cùng gốc người Bắc và cũng trạc tuổi Phạm Duy, vốn không ưa Phạm Duy nên ông “phang” ngay một bài khá cay trên mục Ao thả vịt của ông!

Một thời gian sau tôi thấy Nguyễn Tất Nhiên chạy một chiếc xe Honda nữ còn mới, nhìn rất tức cười. Bởi chiếc xe dành cho nữ khá thấp trong khi Nhiên cao lều khều, người gầy, chân tay dư thừa lòng khòng. Nhiên bảo tiền nhuận bút thơ mình Phạm Duy phổ nhạc đấy. Tôi cũng không hỏi thêm Phạm Duy trả hay ai trả và trả bao nhiêu. Sau này, khoảng cuối năm 1974, khi tôi gặp Phạm Duy trong lần ông lên Buôn Ma Thuột trình diễn chung với một ca sĩ du ca nổi tiếng người Mỹ, tôi hỏi chuyện này, Phạm Duy bảo chắc người in nhạc ông trả chứ ông đâu biết mặt mũi Nguyễn Tất Nhiên ra sao đâu!

Vẫn lơ ngơ chân không chạm đất

Sau ngày 30-4-1975 vài tháng, Nguyễn Tất Nhiên từ Biên Hòa xuống Sài Gòn thăm tôi. Nhiên gầy hơn, cao lêu nghêu và đen nhẻm. Vẫn đôi dép lẹp xẹp, áo bỏ ngoài quần, trông còn lè phè hơn xưa. Nhiên bảo lúc này làm việc ở Hợp tác xã Xe lam. Bữa nay được nghỉ, Nhiên đi Sài Gòn mua ít đồ, tiện ghé thăm tôi. Tối đó Nhiên ở lại, hai thằng ngồi lai rai hết mấy xị đế ở hành lang căn gác tôi ở trọ. Và cùng ngủ ngồi bởi nơi tôi ở ghép trên đường Nguyễn Huỳnh Đức (Phú Nhuận) nhà chật chội, khá đông người, không có chỗ cho hai đứa. Từ đó tôi không gặp Nhiên. Khoảng đầu những năm 1980, tôi nghe tin Nhiên vượt biên, sang định cư ở Pháp, rồi sau lại nghe Nhiên sang Mỹ. Nhiên lấy vợ tôi không hay nhưng tin Nhiên mất tới tôi rất nhanh, qua một người bạn từ Mỹ về báo.

Mãi đến năm 2014 tôi qua Mỹ mới được nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ và đạo diễn Nguyễn Hoàng Nam, em trai Nguyễn Tất Nhiên, đưa tôi đến thăm mộ Nhiên. Không tìm đâu ra nén nhang, tôi xin Nguyễn Lương Vỵ điếu thuốc, đốt gắn trên mộ bạn nằm dưới bóng cổ thụ trong Vườn Vĩnh Cửu, nghĩa trang Westminster, California tĩnh mịch, yên bình.

Những câu thơ tiên tri về bi kịch cuộc đời

Tôi được nghe kể lại, thời gian sau khi ly hôn Nguyễn Tất Nhiên sống cô độc trên chiếc xe hơi cũ, lang thang vô định. Trong xe của Nhiên lúc nào cũng có một bịch khoai tây sống để ăn tạm khi đói. Rồi một ngày người ta tìm thấy anh nằm chết trên xe đậu trong sân một ngôi chùa. Tôi nghe mà lòng nghẹn đắng, thương bạn. Tôi nhớ bạn tôi vốn có nét mặt khắc khổ, ít khi thấy hắn cười, có cười thì nụ cười méo xệch. Thơ cũng như người. Thơ Nguyễn Tất Nhiên khi trẻ là những bài thơ thất tình đã được Phạm Duy phổ nhạc. Nhân vật Duyên trong Khúc tình buồn là một bạn học lớp đệ ngũ, đệ tứ (lớp 8, lớp 9) khi mới 14-15 tuổi. Cô Bùi Thị Duyên hiện định cư ở Michigan, Hoa Kỳ. Cô cho biết chỉ là bạn học thôi nhưng Hải (NTN) thích và làm thơ tặng thì mình nhận. Nhưng vẫn thường nói với Hải bấy giờ mình mãi mãi chỉ là bạn thôi. Và Hải cũng gật đầu. Khi lớn hơn một chút, thơ Nguyễn Tất Nhiên bi thiết não lòng. Khi mới hai mươi, Nguyễn Tất Nhiên đã có những câu thơ bi thiết định mệnh: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ/ Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian/ Phải đau theo từng hớp rượu tàn/ Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…” (Giữa trần gian tuyệt vọng, 1972). Bốn câu thơ này được khắc trên mộ bia Nguyễn Tất Nhiên. Cả bài thơ tặng sinh nhật vợ sắp cưới cũng là những vần thơ sầu thảm như một lời tiên tri về những bi kịch sẽ đến: “Khổ đau oằn nặng sinh thời/ Yêu ai tôi chỉ có lời thở than…/ Lôi người té sấp, gian nan/ Lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi!”.

Minh khúc 90, Nguyễn Tất Nhiên làm sau khi ly hôn, nhiều câu đọc lên mà nghe nhói lòng: “Đường không gian - đã phân ly/ Đường thời gian - đã một đi không về/ Những con đường mịt sương che/ Tôi vô định lái chuyến xe mù đời/ Cu Tí ngủ gục đâu rồi?/ Băng sau nhìn lại bời bời nhớ con...”. Những câu thơ xé lòng của một thi sĩ đi đến tận cùng nỗi bi thiết.

Chuyện cái bút danh

Về chuyện bút danh Nguyễn Tất Nhiên, sau này tôi nghe nói sau khi Nhiên chết, ở Mỹ có người bàn tán về cái bút danh ngộ nghĩnh Nguyễn Tất Nhiên. Chính Nguyễn Tất Nhiên kể với tôi là khoảng năm 1969, lần đầu gặp Du Tử Lê, nhà thơ thần tượng của anh bấy giờ, tại quán Cái Chùa (La Pagode), Sài Gòn, anh rụt rè hỏi: “Cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn em bảo hơi “sến” phải không anh?”. Du Tử Lê buột miệng: “Tất nhiên”. Rồi hỏi: “Họ Nguyễn hả?”. Hải gật đầu. Du Tử Lê bảo: “Thì lấy Nguyễn Tất Nhiên đi!”. Và từ đó bút danh Nguyễn Tất Nhiên đi theo anh đến hết cuộc đời như một định mệnh nghiệt ngã. Khởi đầu từ tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970 đến khi thi sĩ nằm chết lặng lẽ trong chiếc xe hơi cũ ở sân chùa khu Garden Grove, California mùa thu năm 1992, ở tuổi 40.

***

Nguyễn Tất Nhiên tên thật Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Khi mới học đệ tứ (lớp 9 bây giờ) Trường Trung học Ngô Quyền, anh đã có thơ in chung trong tập Nàng thơ trong mắt. Và hai năm sau, anh có tập thơ riêng Dấu mưa qua đất. Cả hai tập thơ này đều với bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Tập thơ Thiên tai với bút danh Nguyễn Tất Nhiên xuất bản năm 1970 đã đưa tên tuổi anh thành một khuôn mặt đặc biệt của thi ca bấy giờ. Nguyễn Tất Nhiên có ba em trai: Nguyễn Hoàng Đệ (chết lúc nhỏ), Nguyễn Hoàng Nam hiện là đạo diễn điện ảnh và Nguyễn Hoàng Thi là ca sĩ-nhạc sĩ. Cả hai hiện định cư ở Hoa Kỳ với cha mẹ.

PHẠM CHU SA
Nguồn: PLO

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Nguyễn Ngọc Tư, nữ nhà văn xóm Rẫy


Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ nữ hiện diện đặc biệt trong làng văn như một vì sao lạ trong không gian văn học đã gần hai thập niên. Sinh ra trong một gia đình lam lũ, sống bằng nghề trồng trọt, nhà cửa đơn sơ ở xóm Bà Điều, Đầm Dơi, bao quanh bởi thảm rau bèo xanh ngút, tận U Minh nơi miền đất Mũi.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Thuở nhỏ, Nguyễn Ngọc Tư là cô bé hiền hòa, chăm chỉ, chiều chiều tẩn mẩn hái rau ba trồng, cho má tinh sương hôm sau đem ra chợ bán. Ban đầu vì thích viết và muốn bớt gánh nặng kinh tế cho ba mẹ, Nguyễn Ngọc Tư mới hết cấp phổ thông cơ sở đã nghỉ học, có ý muốn xin làm việc tại một cơ quan văn nghệ báo chí tỉnh Cà Mau, môi trường thuận tiện có thể phát triển nghề cầm bút mình đam mê. Những lúc thấy con gái ngồi trầm tư suy nghĩ trước trang giấy hay máy laptop, cha của Nguyễn Ngọc Tư biết được ước nguyện của con, và nhận ra thêm điều mình còn phải làm. Với tấm lòng thương con, hiểu rõ con gái có khiếu văn chương, người cha có vẻ thực tế, trải nghiệm như một người đã từng cầm bút, thường không bỏ qua bất cứ cơ hội tốt nào để khuyến khích con mình: “Nghĩ gì, viết nấy. Viết điều gì con đã trải qua”. Cảm thông sâu sắc được tấm lòng của bậc sinh thành, Nguyễn Ngọc Tư vừa nỗ lực công tác tốt ở cơ quan, vừa tranh thủ có thời gian cầm bút hay ngồi trước máy tính để sáng tác. 

Mấy truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư viết về tình bạn ở đồng quê, được cha đem gởi ở tạp chí Văn nghệ Bán đảo Cà Mau được coi là phép thử lần đầu tiên với cô bé ham cầm bút. Không ngờ, cả ba truyện đều được đăng báo. “Con nhỏ học hành dở dang này viết được đó”. Ông Tổng Biên tập vừa nhận xét vừa xoa đầu tác giả, dặn dò: “Viết nữa đi con”. Thế là từ đấy, Nguyễn Ngọc Tư ngày xuống ao, ra liếp rẫy, tối về lại ngồi viết say sưa. Hạnh phúc đầu tiên của cô học trò đạm bạc, mê viết và có nguyện vọng theo nghiệp văn chương tại xứ U Minh đã đến như một bình minh rạng rỡ, ấm áp soi sáng cho những chiếc rễ đước non tươi mạnh mẽ, hăm hở cắm phặp sâu xuống mảnh đất nghệ thuật xứ Đầm Dơi Nam bộ. Vào làm văn thư và học việc phóng viên tại cơ quan, Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu viết tin, viết bài và cả truyện ngắn. Đi thực tế tại cửa biển Khánh Hội, sông Đốc… sau khi cơn bão dữ số 5 ập vào đất Mũi, được chứng kiến cảnh làng quê đổ nát, điêu tàn, về nhà Nguyễn Ngọc Tư  đã có ký sự : Nỗi niềm sau cơn bão dữ. Tự cho là ký sự mình mới viết còn sên sến, nhưng Nguyễn Ngọc Tư cũng đoạt giải ba báo chí của tỉnh năm 1997. Quy ra lúa, giải thưởng không có là bao nhưng nó tạo niềm tin, làm bệ phóng tinh thần để tác giả khẳng định phương châm làm việc cho mình: “Viết là viết, bất kỳ lúc nào, không sắp đặt, không bố cục. Cứ để đoạn sau cuốn theo đoạn trước”. Nguyễn Ngọc Tư nghĩ viết cũng gần gũi như sống đời thường, như ăn nói, đi đứng tự nhiên hằng ngày của con người mà không thần thánh hóa văn chương. Hẳn là nhà văn đã nghĩ người viết hay cũng như một diễn viên phải đóng nhập vai trên sân khấu. Nghĩa là tác giả viết như đang trong tâm trạng của chính nhân vật trong truyện của mình như một chân lý không được coi là xa lạ, thờ ơ đối với người cầm bút. Và Nguyễn Ngọc Tư đã thong dong, bền bỉ đi theo con đường nghệ thuật mình đã vạch ra giữa bận rộn công việc nhà và tại cơ quan. Cứ thế mà những truyện ngắn: Ngọn đèn không tắt, Nỗi buồn đất lạ, Lý con sáo sang sông, Chuyện của Điệp, Ngổn ngang, tiếp nối nhau ngồn ngộn ra đời, gây được tiếng vang trong làng cầm bút do thực chất nội dung hiện thực và nghệ thuật đặc biệt của nó.

Trong hầu hết các truyện, Nguyễn Ngọc Tư dường như đã làm một thông điệp, nói hộ thay cho người dân đói nghèo, cơ cực nơi vùng đất Mũi, những ước mơ thầm kín, những nỗi lòng đau thắt của kẻ yêu thương lỡ dỡ và ngang trái của những mối tình chân không thành bắt nguồn từ cảnh hàn vi nghiệt ngã. Và người đọc không khó nhận ra nhân vật lãng đãng, cốt truyện tản mạn không hề mang dấu ấn rập khuôn theo nguyên mẫu nào. Tác giả viết dễ dàng như thể đang đi bắt sâu ở liếp rẫy ngoài đồng, luống rau trong vườn hoặc chuyện đuổi gà vịt nơi sân nhà. Tuyệt nhiên, Nguyễn Ngọc Tư không thiết tha gì đến chuyện muốn làm văn sĩ, hay để mong đoạt giải, được tiếng tăm trên văn đàn. Tác phẩm viết xong thì như bỏ quên đâu đó. Mãi đến lúc có người giục khi sắp hết thời hạn cuộc thi “Văn học tuổi 20” - năm 2000 do Nhà xuất bản Trẻ tổ chức, Nguyễn Ngọc Tư mới ra bưu điện, gởi bài dự thi. Không ngờ, cô bé viết văn xóm rau bèo lại ẵm giải nhất với phần thưởng 20 triệu đồng. Năm sau, cũng với chùm truyện “Ngọn đèn không tắt” ấy, Nguyễn Ngọc Tư đoạt luôn giải B của Hội Nhà văn Việt Nam. Rồi giải dành cho tác giả trẻ nhất của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam kèm theo nhiều bằng khen và tiền thưởng. Mới 27 tuổi, Nguyễn Ngọc Tư đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, được làm vợ, làm mẹ và tiếp tục hăng say viết. Thấy tài hoa trẻ còn hứa hẹn nhiều triển vọng, bạn bè vặn vẹo hỏi vui: “Sao viết văn mà lấy chồng chi sớm”, Nguyễn Ngọc Tư cũng thành thật: “Có chồng là thợ bạc cách nay bốn năm - cuộc hợp hôn không hẹn mà có hạnh phúc… Quan trọng là không để có chồng mà xuống dốc”. Mà đúng là sau đó người ta thấy Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục lên dốc trên con đường nghệ thuật. 

Không viết truyện thì viết báo, và ai cũng biết Nguyễn Ngọc Tư có “hàng bán chạy” từ Nam chí Bắc. Sau khi được tuyên dương là một trong “Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002” vào năm 2003, Nguyễn Ngọc Tư lại đoạt luôn giải thưởng của Hội Nhà văn Việt nam (2006) với tác phẩm gây không ít xôn xao dư luận “Cánh đồng bất tận”, dù tác phẩm này sau đó lại tiếp tục nhận thêm giải thưởng Văn học Asean (2008), rồi được dựng thành phim (2010) cùng tên và viết thành kịch bản sân khấu. Đã trở thành khuôn mặt nổi tiếng quen thuộc trong làng văn, mặt mày sáng sủa có duyên, nhưng Nguyễn Ngọc Tư là một phụ nữ khiêm tốn, kiệm lời, rất sợ lên báo hoặc phỏng vấn, vì ngại phải nói nhiều hoặc tiếp xúc với đám đông, xuất hiện trước quần chúng - một tính cách mà các nhà tâm lý học gọi là con người “hướng nội” (introvert) dù bản thân đương sự tài hoa xuất chúng. Bù trừ vào tính cách đặc thù này của Nguyễn Ngọc Tư, ai cũng thấy rõ một điều, qua các bài phỏng vấn, trao đổi với nữ nhà văn. Khi bắt đầu chịu nói hay trả lời, Nguyễn Ngọc Tư vẫn nhỏ nhẹ mà trở nên lưu loát, sâu sắc, trí tuệ lại hay văn vẹo phản biện trong cách đối đáp, bằng những từ ngữ mang ý nghĩa khai phá, sáng tạo như cách đặt tựa truyện ngắn của nhà văn: Ngọn đèn không tắt, Gió lẻCuối mùa nhan sắcCánh đồng bất tận…Về cá tính nghệ sĩ cũng có nét độc đáo: trong khi Sơn Nam không thích nghe nói chuyện gì khác ngoài văn chương và nói dóc thì Nguyễn Ngọc Tư lại tránh nghe chuyện văn chương mà chỉ thích nói chuyện đời! Là phụ nữ có gia đình, chồng con, Nguyễn Ngọc Tư thích giao du và nhâm nhi với đàn ông (đến mức ông chồng phải thắc mắc sao điện thoại toàn “anh” không à?) hơn là phụ nữ vì sợ nhiều chuyện!

So với một số nhà văn trên thế giới đã sớm nổi tiếng ở độ tuổi trên dưới đôi mươi ngày ấy của Nguyễn Ngọc Tư như: Francoise Sagan (1935-2004), Arthur Rimbaud (1854-1891), Thôi Hiệu (704-754), Chế Lan Viên (1920-1989), Nguyễn Bính (1918-1966), ở tuổi bốn mươi hiện nay, nhà văn đã sỡ hữu một sự nghiệp văn chương được gọi là đáng kể. Chưa vội nói đến thơ và tạp bút của Nguyễn Ngọc Tư, ta thử bước chân tham quan vài nơi trong vườn truyện trù phú của nhà văn. Ai cũng biết “Ngọn đèn không tắt” là truyện ngắn, lần đầu tiên của Nguyễn Ngọc Tư, được trao liên tiếp ba giải: Giải Mai Vàng, Văn học tuổi hai mươi và giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, trong vòng hai năm (2000-2001). Trong nội dung tác phẩm, Nguyễn Ngọc Tư vẽ lên cái Xóm Rạch nhỏ nhít vùng biển nơi đó có cô gái tên Tươi 19 tuổi, tràn trề sức sống, hồn hậu như mảnh đất phương Nam. Tươi mạnh mẽ với phong thái của người đi khai rừng phá núi nhưng dịu dàng, ngọt ngào, đôi mắt sáng lấp lành như cháy hoài ngọn lửa tin yêu vào cuộc sống. Người đọc nhận thấy bàng bạc trong truyện là những tấm lòng của từng con người như Tư Lai, Tươi qua từng thế hệ trong gia đình ông Hai Tương, đã dành trọn sự kính trọng và ân tình cho những anh hùng liệt sĩ - những người đã ngã xuống vì độc lập tự do cho tổ quốc quê hương. Công việc hằng năm đi kể chuyện lịch sử quê hương của những thành viên trong gia đình ông Hai Tương là những việc làm xem ra rất bình thường, nhưng mang một ý nghĩa vô cùng to lớn. Đó là : quyết tâm giữ mãi ngọn lửa truyền thống đấu tranh đuổi giặc giữ nước của cha ông, để cho “ngọn đèn” lịch sử chói lọi của dân tộc, của cha ông cháy mãi, sáng mãi trong từng tâm hồn của thế hệ mai sau. “Ngọn đèn không tắt” không phải là một sáng tác phá cách về sáng tạo văn chương nhưng khiến người đọc phải trân trọng ý nghĩa giáo dục về tính nhân văn tỏa rạng trong từng hình tượng văn học ở tác phẩm mà Nguyễn Ngọc Tư đã ký thác. Những hình ảnh của con người Nam bộ mà Nguyễn Ngọc Tư phác họa trong “Ngọn đèn không tắt” và nhiều tác phẩm khác khiến người đọc miệt vườn có thể liên tưởng tới quá trình hình thành và phát triển của cây đước nơi rừng U Minh. Trái đước nẩy mầm từ lúc còn treo lơ lửng trên cây. Khi rụng xuống, nó được sóng biển đưa đi trôi dạt khắp nơi, khi gặp bùn lầy, trái đước trụ lại, rễ   non bám vào phù sa. Sau khi bám rễ trong đất, mầm đước nẩy lên một búp non màu đỏ như lửa và xòe ra hai lá xanh non đầu tiên đón ánh sáng và khí trời. Quá trình bén rễ cũng là quá trình nâng cây đước đứng thẳng lên giữa đất trời để cuộc đời hiểu được sứ mệnh của nó. Một bài học ý nghĩa cao đẹp từ cây đước đã được minh họa bằng hình tượng những nhân vật trong tác phẩm vừa được giải của Nguyễn Ngọc Tư.

Như ngọn đèn cứ mãi cháy càng lúc càng sáng, hơn năm năm sau (2006), truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục ra đời, được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam rồi giải Văn học Asean (2008) nhưng gây không ít chấn động trong dư luận. Cũng lấy bối cảnh không gian ở đồng bằng sông Cửu Long như “Ngọn đèn không tắt”, Nguyễn Ngọc Tư xây dựng tác phẩm mới này dựa vào hoàn cảnh thời gian và tuyến nhân vật không giống như trước đây. Dường như nhà văn có ước mơ hiện thực hóa xã hội trong tác phẩm văn học của mình.“Cánh đồng bất tận” của nhà văn xứ Đầm Dơi hình thành một thế giới nhân vật với Út Vũ, và hai đứa con là Nương, Điền cùng người phụ nữ dạn dày làm nghề không vốn từ bốn phương trôi giạt về. Sau khi Út Vũ đốt nhà vì vợ theo trai, họ ra đi cùng sống đời du mục quanh năm trên một chiếc ghe chở đàn vịt chạy đồng, đi qua những thửa ruộng ngập mặn và váng phèn. Tên truyện có vẻ mênh mang thi vị nhưng cốt truyện lại đầy khúc mắt, gây cấn với những nhân vật được đặt vào những tình huống căng thẳng đầy kịch tính. Đó là người vợ của Út Vũ ngày ấy, “một người đàn bà có cái cười lấp lánh cả khúc sông” từng được một người đàn ông thương hồ buôn vải ngầm khen đẹp, để rồi phải bỏ tổ ấm nhà cửa và người chồng đầu ấp tay gối: “Sáng sau, thím Tư đi chợ, tới bến tàu cho hay Vợ Út Vũ bỏ nhà. Theo trai”. Đó là người mẹ đã đành lòng bỏ biệt những đứa con máu thịt, ra đi biệt dạng, vì chúng nó vô tình cho biết đã nhìn lén được qua kẹt bồ lúa cảnh người mẹ ruột của mình với người đàn ông xa lạ không phải là cha mình: “Trên chiếc giường tre quen thuộc, má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chởm những nốt ruồi!” để trả thay tiền khúc lụa màu đỏ cho gã thương hồ. Và hận tình, người chồng trả thù vợ trên thân xác những người đàn bà khác. Đó cũng là tình huống đứa con gái tốt bụng của Út Vũ tên Nương, cứu được người đàn bà đang bị người ta đánh ghen dã man đến mức độ chưa từng thấy: “Người ta đã đổ keo dán sắt vào cửa mình của chị”. Rồi đến lượt chính cô gái ngây thơ mới 17 tuổi ấy, lại trớ trêu bị bọn côn đồ làng quê cưỡng hiếp tàn nhẫn ngay trước mặt người cha ruột của mình đến lúc phải thảng thốt: “Không biết con bị…có con không cha?”. Dưới ngòi bút tả thực của Nguyễn Ngọc Tư, những nhân vật xuất hiện được mô tả một cách nghệ thuật mà tự nhiên, trần trụi và táo bạo đến độ nhà văn Sơn Nam phải thốt lên “Nguyễn Ngọc Tư viết hay nhưng rất hỗn”. Viết truyện ngắn hoặc tiểu thuyết, khi diễn tả tính cách, tâm lý, tình cảm nhân vật… - theo nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan - tác giả chỉ khách quan  tả bằng cách nêu lên chi tiết về chân dung, thái độ… của nhân vật mà không để ý kiến nhận xét của người viết xen vào. Nguyễn Ngọc Tư đã làm như vậy trong hầu hết các truyện mang tính hư cấu của mình. Lời văn, ngôn ngữ minh họa nhân vật, cảnh quan của của Nguyễn Ngọc Tư trong “Cánh đồng bất tận” dù mang sắc thái Nam bộ: Tự nhiên, không cầu kỳ nhưng vẫn ví von, bóng bẩy, câu văn vẫn có giai điệu, sắc màu nghệ thuật khá gần gũi với nhà văn Trang Thế Hy mà ít gặp có điểm tương đồng với nhà văn Sơn Nam. Đây là đoạn văn Nguyễn Ngọc Tư bài bản mở đầu bằng câu văn tả cảnh nghệ thuật có tu từ và màu sắc, mở ra không gian khá thi vị mà tiêu điều, để làm nền trong “Cánh đồng bất tận”: “Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hản dường như đã gom hết nắng đổ xuống nơi này. Những cậy lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn ngang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn…”. Do vậy, “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư là một tác phẩm được coi là đậm dấu ấn về sex bao trùm hết mọi người trong gia đình: Út Vũ, người vợ hư hỏng, người phụ nữ làm đĩ, gã thương hồ buôn vải, Nương…và bọn côn đồ làng quê.

Người đọc nhớ lại, văn học thế giới từ trước đến nay đã có những nhà viết tiểu thuyết chứa dựng ít nhiều không khí sex như : nhà văn Pháp Émile Zola (1840-1902), Ngô Tất Tố (1894-1954) với Tắt đèn, Vũ Trọng Phụng (1912-1939) với Làm đĩ, Giông tố, Kỹ nghệ lấy Tây,…, Hoài Điệp Tử với Vũng lầy, Nguyễn Thụy Long (1938-2009) với Con đĩ ngựa, Nguyễn Thị Thụy Vũ (sinh năm 1937) với Mưa không ướt đất, Nguyễn Thị Hoàng (sinh năm 1939) với Vòng tay học trò… Nhưng đậm đặc nhất là ở nhà văn Nhật Murakami: Mịt mùng với Rừng Na Uy, nữ nhà văn Pháp Christiane Rochefort (1917-1998): triền miên với Le repos du guerrier (Phút dừng chân của người lính trận), Lê Xuyên (1927-2004): Trần trụi với Rặng trâm bầu, Đỗ Hoàng Diệu (sinh năm 1976): huyễn hoặc, phi luân với Bóng đè, … Nhưng ở “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, ai cũng thấy rõ nồng độ sex dường như triền miên, đậm đặc hơn nhiều. Chuyện ngại nhìn và khó nói ấy đã bao phủ mịt mùng không dứt qua ngòi bút tài hoa, giàu cá tính mà thấm đẫm nét hiện thực xã hội trong suốt chiều dài nội dung cuốn truyện vừa của nữ nhà văn miền đất Mũi. Do vậy mà từ lúc xuất hiện trên thị trường sách đọc, dù liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng đỉnh cao, “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư đã làm dấy động văn đàn với những lời khen chê rầm rộ từ mọi giới trong cả nước. Mới hơn thập niên, ý kiến phẩm bình chung về tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư trong đó tập trung cô đặc vào “Ngọn đèn không tắt” và “Cánh đồng bất tận”, đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực và mối quan tâm của độc giả, cả quần chúng trong và ngoài giới văn học.

Tóm lại, Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có chân tài trong nền văn chương hiện đại Việt Nam. Tác phẩm của nhà văn mang tính hiện thực sâu sắc vì đã phản ánh được chân dung đích thực với tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của lớp người lao động nghèo khó ở đồng bằng  sông Cửu Long, bằng một phong cách nghệ thuật tiêu biểu cho lối viết chơn chất mà cô đọng của những người cầm bút ở phương Nam..
Chưa vội nói thêm đến tác phẩm khác của khối lượng sáng tác đồ sộ trong đó có tiểu thuyết “Sông” cùng những truyện ngắn, tạp văn, tùy bút và tập thơ “Chấm” của Nguyễn Ngọc Tư, với “Ngọn đèn không tắt” và “Cánh đồng bất tận”, có thể coi nữ nhà văn miền đất Mũi là một hiện tượng đặc biệt trong làng văn học nước nhà. Riêng phim “Cánh đồng bất tận”, được chuyển thể từ cuốn truyện cùng tên của Nguyễn Ngọc Tư, sau khi phát hành đã đạt doanh thu 17 tỷ và tập truyện ngắn “Đào” in 25.000 bản, rồi tiểu thuyết “Sông”: 11.000 bản, ra mắt và được ký tặng bạn đọc tại Hội trường 87, Triển lãm Giảng Võ Hà Nội. Chỉ sau hơn tuần đến hai tháng, những cuốn sách đã bán hết, được tái bản, đủ để nói lên tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư đã đi vào lòng người đọc và tên tuổi nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư thực sự có vị trí đặc biệt trên văn đàn cả nước

NGUYỄN THANH
Nguồn: VĂN NGHỆ 2016

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Thứ Ba, 4 tháng 9, 2018

Phạm Sỹ Sáu & Cảm thức nhân sinh


Giữa đám đông những người viết văn làm thơ, không khó để nhận ra một người đàn ông tóc hớt cao, bụng hơi phè ra dáng quan, nhưng đôi mắt nếu nhìn vào sâu một chút lại thấy có chút gì rụt rè.

Người đàn ông đó là nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, hiện là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Anh sinh năm 1956 tại huyện Hòa Vang, Đà Nẵng. Trước khi trở thành nhà thơ, Phạm Sỹ Sáu đã có một thời gian chừng mười năm tham gia quân ngũ, còn trước đó nữa là sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn.
Nhà văn Cao Chiến và nhà thơ Phạm Sỹ Sáu ở chiến khu Đ - 8.2017

Một ngày giữa tháng 8 năm 2017, anh tặng tôi tác phẩm mới nhất của mình, trường ca “Giữa ngày và đêm”, do Nxb Văn hóa - Dân tộc ấn hành. Trường ca này, như lời đề từ ở đầu trang của Phạm Sỹ Sáu, anh viết để “Thương yêu tặng những người thân yêu của đồng đội và tôi”.

Sau tác phẩm đầu tay “Hãy mở lòng ra mùa thu tới” (Thơ, Mây Biển, Đà Nẵng, 1973) viết ở tuổi học trò, những năm tháng sau đó những “Khúc ca vào chiến dịch” (Ký sự thơ, in chung, NXB Văn Nghệ & báo Tuổi Trẻ, TP.HCM, 1981); “Điểm danh đồng đội” (Thơ, NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1988); “Ra đi từ thành phố” (Trường ca, NXB Trẻ, TP.HCM, 1994); “Chia tay cửa rừng” (Thơ NXB Trẻ, TP.HCM, 2002); “Gởi bạn bè làm xong nghĩa vụ” (Thơ, NXB Trẻ, TP.HCM, 2004); “Thơ với tuổi thơ” (Thơ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2005); “Khúc ca đồng đội” (Thơ, NXB Trẻ, TP.HCM, 2008); “Giữa ngày và đêm” (Trường ca, NXB Văn hóa Dân tộc) của Phạm Sỹ Sáu nối nhau ra đời. Và anh cũng giành được khá nhiều giải thưởng văn chương.

Trong bài viết này tôi chỉ xin giới hạn trong phạm vi tác phẩm “Giữa ngày và đêm”. Thực sự là tôi không mấy chú trọng tới cái gọi là lớp lang bởi với một người viết có nghề như Phạm Sỹ Sáu thì đó là đương nhiên, mà chỉ dành sự quan tâm một thứ duy nhất rằng gan ruột tác giả hòa điệu với đồng đội của mình và với chính mình thế nào qua thơ. Thơ Phạm Sỹ Sáu nói chung và trường ca “Giữa ngày và đêm” nói riêng, hầu như chỉ nói về người lính, kể cả đôi bài có tí gọi là thế sự thì ẩn bên trong vẫn là một nhiệt huyết của người lính.

Người chưa cầm súng có thể vẫn có những trang viết rất hay về người lính, nhưng đọc một cách kỹ lưỡng, vẫn phảng phất nhận ra họ không phải là lính. Chủ quan tôi cho rằng chỉ khi người ta thực thụ xông pha, đi qua sinh tử cận kề thì lúc ấy cái gọi là chất lính mới thành máu thịt. Giữa đám đông, từ lối đi đứng, khẩu khí, giọng điệu, không quá khó để nhận ra họ. Phạm Sỹ Sáu với bản trường ca “Giữa ngày và đêm” là một trường hợp có dáng dấp như vậy. Tình cảm anh dành cho đồng đội thật ấm áp.

“Ba lô hai mươi ký nặng vai/Thở hì hà hì hục/Mồ hôi đẫm áo như vá chằng vá đụp/Mồ hôi rơi nhòe tóc, ướt lông mày/Mồ hôi tràn ướt đẫm cả chân tay/Những chàng trai không quen lửa đạn/Những chàng trai chiến trường chưa có ngày dày dạn/Lại vào rừng, vào rừng/Về với đồng bưng, trảng nước”

“Sau những ngày đội nắng trên đầu như chảo lửa/Chúng tôi bước vào một mùa mưa ngập ngụa/Một mùa mưa như chưa gặp bao giờ/Không phải mùa mưa của ký ức tuổi thơ”

“Khắp nam bắc tây đông ở đâu cũng một màu vàng rực/Cái màu vàng làm những người lính tức ngực/Cái màu vàng làm người lính nôn nao”

“Nắng xua tan những sương mù/Liếm môi trên lá có thu được gì”

Trường ca “Giữa ngày và đêm” của Phạm Sỹ Sáu

Có thể nhận thấy ngôn ngữ ở đây rất mộc, chẳng ví von, cũng chẳng có gì gọi là ẩn ý cao siêu, ai đọc cũng hiểu. Thậm chí, nếu bỏ đi các dấu ngắt thì có thể biến thành một câu văn. Nhưng nói vậy mà không phải vậy. Không ở rừng, không có những ngày đội đầu đi dưới chảo lửa, và trong một khoảnh khắc không đắm hồn vào trong tứ bề một màu vàng rực thì chẳng thể nào cất lên nổi những câu thơ như thế. Cái chất tôi gọi là mộc của ngôn ngữ trong thơ Phạm Sỹ Sáu là thứ muối mặn gừng cay, ngỡ tưởng nhộn nhạo nhưng nuốt thì chất đằm thắm đọng lại mãi.

“Cơm nầy cơm của ơn trời/Cơm nầy cơm của ơn đất/Cơm nầy cơm của ơn Phật/Ăn vào phải nhảy múa thôi/Ăn vào phải ra đồng rồi/Ăn vào xuống sông bắt cá”

“Con gái giờ đã căng đầy/Sau những ngày cơm có cá”

“Đẩy đưa, ấm no, rậm rực/Nghe trong bầu ngực tức tức/Nghe trong lòng đang sục sôi/Lấy chồng thôi, cưới chồng thôi”

Sự hồi sinh vô cùng mãnh liệt của cuộc sống được Phạm Sỹ Sáu diễn tả rất tài tình. Cũng vẫn là thứ ngôn ngữ mộc xuyên suốt ấy nhưng giờ biến hóa, giàu nhạc điệu của trống của lửa, khiến cho người đọc cuốn vào rậm rực muốn nhảy dựng lên. Có thể nói đây là ngôn ngữ riêng của thơ Phạm Sỹ Sáu, không chỉ bởi hiện thực anh trải nghiệm, mà tôi cho rằng những điệu ru câu hát của miền ấu thơ đã thấm một cách vô thức, và như bản năng bởi ngữ cảnh bật ra trong tác phẩm của mình, tươi rói lên.
  
Nhưng đôi chỗ, chủ quan tôi cho rằng Phạm Sỹ Sáu đi trượt ra khỏi hệ ngôn ngữ mang sắc thái riêng của mình. Cùng nói về tâm trạng khát khao, nhưng hai câu tôi dẫn ra đây đích thị là của Phạm Sỹ Sáu: “Ôi ánh mắt nhìn chi mà tha thiết/Để lính con trai cứ ngỡ của riêng mình”; “Những thằng lính chưa được làm đàn ông cứ tiếc dài dài/Giá mà biết trước thì làm liều một cái/Để lỡ có hy sinh không còn thây thì cũng không thấy ngại/Khi biết chút mùi đời ở tuổi mười chín đôi mươi/Để biết ôm một vòng ôm ấm ngực với núi đồi/Với tóc mượt, với môi hồng con gái”. Còn câu này, thì có hơi hướm đi ghé: “Nhớ một làn môi, một mái tóc buông mềm/Một bóng dáng của người đâu xa lức/Một bóng dáng vẫn theo mình đánh giặc/Để đêm mơ thành… chiến sĩ… phòng không”. Tôi mạo muội nói là đi ghé bởi Phạm Sỹ Sáu có thể né ngọn núi “Tây tiến” sừng sững của Quang Dũng với “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Nhưng, điều tôi muốn nói về thơ Phạm Sỹ Sáu, chính xác hơn là đôi cảm nhận về  trường ca “Giữa ngày và đêm” của anh không phải là những thứ ở trên, dù rằng với một nhà thơ thì bây nhiêu vốn liếng cũng có thể coi là khá ổn dưới bầu trời thi ca. Nhiều năm về trước, ở Nha Trang có một rạp chiếu phim, được dựng lên cho một cuộc liên hoan phim Việt Nam. Thời gian này tôi đang đi biệt phái, căn bản là tự mình quản lấy mình. Ở đấy, cứ rảnh là chui vô rạp. Có một phim, nếu tôi nhớ không lầm được chuyển thể từ một cuốn tiểu thuyết của ông nhà văn Trần Văn Tuấn, có hình ảnh dòng người di trú coi rất xúc động. Bất chợt tôi nhận ra sự sẻ chia về kiếp người trong cõi nhân sinh. Trường ca “Giữa ngày và đêm” của Phạm Sỹ Sáu có những dòng thơ đã chạm khẽ nơi chốn ấy. Thơ của anh, ở những dòng này như bị nhập đồng, là tôi thấy thế, hớn hở, náo nức, khóc cười.
  
“Quê xưa đã xa ngút ngàn/Quê xưa giờ đã tan hoang hết rồi/Chi bằng bèo giạt mây trôi/Cứ theo về hướng có người dừng chân/Phum ven đường, phum xa xăm/Khi chân đã mỏi thì thân nhân là/Người đồng hành quãng đường xa/Chia nhau miếng nước, miếng cà, miếng canh/Chia nhau miếng đường để dành/Chia nhau cả những tâm tình, chia nhau/Nhận thân nhân, nhận đồng hao/Nhận chung phận kiếp dãi dầu từng qua/Trở về, giờ trở về nhà/Không còn ai, miễn còn ta, còn mình/Còn người chung kiếp nhân sinh/Bắt tay xây dựng đời mình từ đây”

“Mai sau có dịp đi tìm/Về nơi chốn cũ thì xin nhớ rằng/Một thời chiến trận khó khăn/Một thời sống chết tim hằn nỗi đau”

Còn nhiều câu thơ hay, và cũng còn nhiều nỗi niềm Phạm Sỹ Sáu gửi gắm trong tác phẩm, thiết nghĩ tốt nhất là để bạn đọc tự khám phá. Để có thể đi tới cảm thức nhân sinh, để hồn vía kiếp người quyện vào trong hồn vía mình và đơm hoa, thì với một người cầm bút, tài năng và nghệ thuật dùng chữ chỉ là một yếu tố mang tính kỹ thuật. Khi đối diện với thân phận người, phải có một day dứt và sẻ chia đủ sâu sắc mới khiến cho câu thơ có hồn. Trong một chừng mực nào đó, với trường ca “Giữa ngày và đêm” Phạm Sỹ Sáu đã có được phẩm chất ấy.    

TP Hồ Chí Minh 18.9.2017
CAO CHIẾN


ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Thứ Hai, 3 tháng 9, 2018

Nhà thơ Kiên Giang: Hoa trắng thôi cài trên áo tím


Nhà văn Sơn Nam tinh tế khi viết: "Một cuộc đời lăn lóc, chẳng bao giờ khấm khá, về già làm chuyện ái hữu, tương tế, quả là thành đạt, không xấu hổ với đất nước. Đây là một người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi".
Nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà

Nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà là người làm thơ tình chân quê Nam bộ hiếm hoi còn sót lại ở thiên niên kỷ thứ ba này. Đọc thơ ông là thấy cả tuổi thơ ấu ở miệt vườn, gánh hát cúng đình, ngọn khói đốt đồng, nghe văng vẳng tiếng xe trâu lốc cốc… Có lần ngồi quán cóc ông buột miệng đọc bốn câu ca dao:

    Lồng đèn treo cột đáy
    Nước xoáy lồng đèn xoay
    Dĩa nghiêng múc nước sao đầy
    Lòng thương người nghĩa ba má rầy cũng thương

Tôi reo lên: "Hay quá! Sao không thấy in trong sách?". Ông cười, nói nhỏ: "Bà già tao đọc, ngâm nga ru ngủ hồi nhỏ, riết rồi nhập tâm".
   
Nhà thơ Kiên Giang sinh ngày 17.2.1929, tên thật là Trương Khương Trinh tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, cùng quê với nhà văn Sơn Nam. "Vốn liếng về từ ngữ người Kiên Giang rất ít, hàng ngày sống lân la với người Hoa bán tạp hoá và người Khmer làm ruộng. Ở đây có thể nói tiếng Việt không phát triển, lại thêm "tiếng lóng" mà người địa phương khác khó chấp nhận. Vốn duy nhất là ca dao được mẹ dạy cho, từ thuở ấu thơ. Vốn quan trọng hơn vẫn là cái tâm, lòng yêu nước, muốn giới thiệu tâm hồn người dân nghèo xóm mình với cả nước, cùng chia sẻ buồn vui (Sơn Nam- Cùng bạn đọc- lời tựa tập Hoa trắng thôi cài trên áo tím, NXB Văn Học 1995).
   
Ông từng tự bạch: "Năm 1943 tôi học trường tư Lê Bá Cang (Sài Gòn). Ăn cơm tháng, ở nhà trọ trên một ốc đảo đường Hàn Sanh (nay là Bạch Đằng) gần chùa Long Vân. Khi thức đêm học bài, tôi thấy và nghe hình tượng nhạc xe bò. Đêm nào đoàn xe bò ấy cũng lăn bánh ngang cửa thảo trang. Một thứ nhạc khô khan và thắm thiết, triền miên mà nức nở ngân vang từ những móng sắt vành xe. Tôi thao thức vì ghiền nghe nhạc xe bò, cố tìm những nét sống đẹp để tô điểm thành thơ. Hình ảnh một chiếc võng giăng dưới dạ xe chở phân rác, bốn móng bò mòn lẵn,  chiếc roi tơi tả, ngọn đèn chong leo lét nhất là mái tóc phong trần luôn rối tung chính là những nét sống - trong một nếp sống nghèo mà đẹp - của người mẹ đánh xe bò. Tất cả là thơ và nhạc. Tôi đã ôm ghì được vú sữa của nguồn hứng cảm nhưng chắc hẳn chỉ ghi lại được một vài góc cạnh mà thôi. 14 năm sau, kể từ năm 1943, khi trở lại xóm chùa Long Vân, tôi không tìm được nhà trọ năm nào. Nhà tường mọc lên, người cũ đi mất, chết hoặc bị xua đuổi. Năm 1993, xóm chùa, xóm Hàng Sanh đã bị xoá mất. Người cũ mất hết. Chiếc xe bò chỉ còn trong ký ức.

   Tình tang! Lốc cốc! Tang tình!
   Nhạc vang hòa khúc viễn trình đắng cay

                              (Nhạc xe bò)
  
Bùi Giáng trong quyển Đi vào cõi thơ - NXB Ca Dao 10.1969 viết: "Lành mạnh, thanh cao, vị tha và ái quốc”, ông Thiếu Sơn nói không sai một tấc một ly nào cả, khi giới thiệu thơ Kiên Giang.
  
Ông Kiên Giang tuyệt nhiên "không cầu kỳ, không giả tạo" mà đạt tới chỗ sâu thẳm nhất trong linh hồn mọi người, một cách thuần nhiên.
  
… Quê hương thơ ấu của Kiên Giang sẽ nằm trong nước Việt như Kinh thư nằm trong nước Tàu. Một quê hương bình dị thiết tha và hình như chúng ta đang đánh mất. Chỉ kêu gọi về trong những trận chiêm bao".
  
Thơ Kiên Giang có nhiều câu phổ biến rộng rãi như:

-  Ong bầu đậu đọt mù u
Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn

-  Ngày mai đám cưới người ta
    Cớ sao sơn nữ Phà Ca lại buồn

-  Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương

Và trong bài thơ Tiền và lá ông đề: "Kính tặng thi sĩ Nguyễn Bính để nhớ ngày tá túc ở xóm biển Kiên Giang", có lúc bị nhầm là thơ Nguyễn Bính. Bài thơ có những câu phảng phất tâm hồn chân quê cảm động: "Bây giờ những buổi chiều êm/Tôi gom lá đốt, khói lên tận trời/ Người mua đã bị mua rồi/ Chợ đời họp một mình tôi… vui gì!".
   
Kiên Giang còn là soạn giả cải lương lừng danh cùng thời Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều- Hoa Phượng, Quy Sắc… với nghệ danh Hà Huy Hà (Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới…). Ngoài ra ông là ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn ở Sài Gòn trước 1975 như Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tin Sáng…, tham gia phong trào ký giả ăn mày ngày 10.10.1974. Chính vở tuồng đầu tay của ông là Người vợ không bao giờ cưới đã tạo bệ phóng cho nghệ sĩ Thanh Nga đoạt Giải Thanh Tâm, lên hàng ngôi sao trong giới cải lương. Ông lang thang rày đây mai đó, vẫn với bộ vó giang hồ, vai mang túi xách, đầu đội chiếc nón trắng ngã mầu, cả đời lận đận với nghiệp thơ. Sống cuộc sống vất vả, lúc về hưu lui tới thường xuyên Ban Ái hữu nghệ sĩ TP.HCM ở số 133 đường Cô Bắc, mở lớp dạy đờn ca tài tử miễn phí  cho học sinh trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu, thật đúng là hình ảnh kẻ sĩ hiếm hoi trong thời buổi kinh tế thị trường.
   
Nhắc đến thơ Kiên Giang nhiều người nhớ ngay đến bài thơ nổi tiếng Hoa trắng thôi cài trên áo tím. Chị Hà Khánh Phương (chị bà con liệt sĩ Mai Thị Non- anh hùng lực lượng vũ trang tỉnh Long An) cho biết chị còn giữ bài thơ nầy in dưới dạng tờ bướm từ lúc 17 tuổi đến nay trên 40 năm.
   
Nhạc sĩ Huỳnh Anh (con trai danh cầm Sáu Tửng) phổ nhạc, nhiều thế hệ ca sĩ hát bài này như Thanh Thuý, Hoành Oanh, Giao Linh, Trường Thanh và Hồ Điệp ngâm nhiều lần trong chương trình tiếng thơ Mây Tần do Kiên Giang phụ trách trên đài phát thanh Sài Gòn. Kiên Giang cho biết: "Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944 tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có NH. -cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc. Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau NH.  đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, NH. biết ý gửi cho, rồi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn 'Con Tám NH. vẫn chờ mày'. Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của NH. tâm tình suốt đêm bên ánh đèn dầu huê kỳ. Sau đó tôi nghe tin NH. lấy chồng có con đầu lòng đặt tên là tên ghép lại của tôi và NH. vì thế chồng cô biết rất ghen tức. Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng. Kết trước là: "Xe tang đã khuất nẻo đời/ Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu/ Từ nay tóc rũ khăn sô/ Em cài hoa tím trên mồ người xưa" thành cái kết: "Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo/ Nhưng tin có Chúa ở trên cao/ Trong lòng con giữ hoa màu trắng/ Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!"… Năm 1999, Hãng phim TFS Đài Truyền hình TP.HCM có làm phim Chiếc giỏ đời người về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là NH. mất năm 1998. Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH. ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là:

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ".
  
Nguyễn Văn Thức trong bài viết Vài nhận định về thơ và các nhà thơ ở  Thành phố Hồ Chí Minh có đoạn nhận xét về Kiên Giang"Một nhà thơ chỉ còn giao lưu với câu lạc bộ thơ quận là chính, Hoa trắng thôi cài trên áo tím nay chỉ còn là kỷ niệm. Đôi khi tôi thấy nhà thơ buồn như sương giá, lạnh quanh đời". Tôi nghĩ một nhà thơ tuổi gần bát thập, dời chỗ ở hơn chục lần, đấu tranh vì độc lập đất nước, làm thơ, soạn tuồng cải lương, viết báo tận tuỵ cống hiến cho đời, để lại nhiều câu thơ hay là một thành công về văn học, là một tâm gương sáng trong cuộc sống hôm nay. Nhà văn Sơn Nam tinh tế khi viết: "Một cuộc đời lăn lóc, chẳng bao giờ khấm khá, về già làm chuyện ái hữu, tương tế, quả là thành đạt, không xấu hổ với đất nước. Đây là một người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi".

 TRẦN HỮU DŨNG
Nguồn: NVTPHCM 

Thơ KIÊN GIANG

Hoa trắng thôi cài trên áo tím

I.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! Chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! Chuông nhà trường

II.

Lần kia anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi

III.

Sau mười năm lẻ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
- Hoa trắng thôi cài lên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang, cách mấy sông
Anh vẫn yêu em người áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

IV.

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thẫm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím tình thơ đã nhạt màu

V.

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ

VI.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa thánh đường

"Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng còn giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !"
                                              
Bến Tre, 14.11.1958


ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Kim Tuấn, từng bước từng bước thầm

Được biết nguyên một thời thơ ấu, thời thanh thiếu niên Kim Tuấn sống và lớn lên ở Phan Thiết, tôi tìm đọc thơ ông nhiều hơn. Thế rồi càng đọc càng thương một cõi sống, cõi thơ lành hiền mà tròn đầy, yên vui mà lặng lẽ, giản dị thân quen mà trữ tình, sâu sắc vô cùng. Và tôi vỡ lẽ một điều vì sao bạn yêu thơ trên khắp đất nước này đều yêu mến thơ Kim Tuấn đến vậy.
Nhà thơ Kim Tuấn

“Từng bước từng bước thầm
hoa vông rừng tuyết trắng
rặng thông già lặng câm
hai đứa nhiều hối tiếc
sương mù giăng mấy đồi
tay đan đầy kỷ niệm
mưa giữa mùa tháng năm
dật dờ cơn gió thổi…”

(Kỷ niệm - Kim Tuấn)

Bài thơ này được nhạc sĩ  Y Vân phổ nhạc với tiêu đề mới “Những bước chân âm thầm”, cùng với “Anh cho em mùa xuân” phổ từ bài “Nụ hoa vàng ngày xuân” của Nguyễn Hiền là hai ca khúc đi vào lòng người, sống trong lòng người, có thể nói không quá là sống cùng thời gian.

Thơ Kim Tuấn còn được rất nhiều nhạc sĩ nổi tiếng khác phổ nhạc, như Phạm Duy với “Khi tôi về”, Lê Uyên Phương với “Khi xa Sài Gòn”, Phạm Đình Chương với “Ta ở trời Tây nhớ trời Đông”, “Nói với mùa thu” do Thanh Trang phổ, “Ga nhỏ chiều mưa”, “Lòng vẫn còn thương”, “Tình vẫn còn thương”, “Tháng đợi năm chờ” do Tấn An phổ, “Còn nhớ còn thương” do Minh Mỹ phổ…

Kim Tuấn tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Khuê (sinh năm 1938) tại Huế. Ông là hậu duệ đời thứ năm của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Thuở nhỏ sống cùng gia đình ở Phan Thiết. Lớn lên vào Sài Gòn học. Kim Tuấn có thơ đăng trên các tạp chí từ những năm 1960 đến mãi sau này. Tập thơ đầu tiên xuất bản là tập “Hoa mười phương”.

Năm 1977, ông về Thành phố Hồ Chí Minh làm Hiệu trưởng Trường Anh văn và dạy nghề Thăng Long ở quận 4, một ngôi trường dành cho trẻ em lang thang và dạy học ở đó cho đến cuối đời. Ngày 11/9/2003, sau khi tham dự một buổi văn nghệ phát quà Trung thu cho trẻ em nghèo tại trường do Saigon Children’s Charity tài trợ, ông về nhà ngắm trăng với vợ con rồi đột ngột bị nhồi máu cơ tim và vĩnh viễn rời khỏi trần gian. Ông đã đi xa nhưng thơ ông vẫn ở lại cùng với chúng ta, những vần thơ mượt mà tuyệt diệu.

Tôi đặc biệt yêu thích một bài thơ như trào lên từ âm nhạc, cùng âm nhạc của ông:

“Anh buồn anh tóc trắng
Trời buồn mây trắng bay
Em ngày nào áo trắng
Vòng hoa trắng trên tay
Anh cuối đời tóc bạc
Nhớ đầu đời tóc xanh
Một đời anh lận đận

Ngày tháng đã qua nhanh
Ngày tháng còn lại gì?
Nụ cười và nước mắt
Khi anh về với đất
Em về hoa trắng bay …

(Bài cuối cùng cho em – Kim Tuấn)

 NGUYỄN TÂN HẢI

_______________________

Các tập thơ của nhà thơ Kim Tuấn đã xuất bản:

Hoa mười phương - Trường Giang 1959
Ngàn thương (chung với Định Giang) 1961
Dấu bụi hồng - Minh Đức xuất bản 1971
Thơ Kim Tuấn 1962 – 1972 - Gìn Vàng Giữ Ngọc 1975
Thời của trái tim hồng - NXB Tổng hợp Sông Bé 1990
Tuổi phượng hồng - NXB Trẻ 1991
Tạ tình phương Nam -1994
- Thơ lý và thơ ngắn - NXB Văn nghệ TP.HCM 2002.
Con đường… (in chung với con trai Bảo Khôi) - Hội Nhà văn ấn hành 2013


ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2018

Nhà văn Lý Văn Sâm: Một tên tuổi rất đáng trân trọng

Lý Văn Sâm viết về nhiều đề tài khác nhau, nhưng căn cứ vào nội dung tác phẩm, có thể chia thành ba mảng đề tài là: mảng truyện đường rừng, mảng viết về cuộc sống đô thị, mảng viết về cuộc sống kháng chiến. Hầu như ở mảng nào ông cũng đều có những sáng tạo, những thành công đáng kể gây tiếng vang trong văn học đương thời. Cố nhà văn Sơn Nam, người bạn văn đương thời của Lý Văn Sâm nhận xét “Nếu không có Lý Văn Sâm, văn học ta chịu một thiệt thòi lớn, không gì bù đắp nổi.” 
Nhà văn Lý Văn Sâm

Trong những văn nghệ sĩ cuả Đồng Nai có nhiều đóng góp vào cuộc kháng chiến cuả dân tộc với cả hai tư cách chiến sĩ- nghệ sĩ, có một tên tuổi rất đáng trân trọng. Đó là nhà văn Lý Văn Sâm. Hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, các tác phẩm xuất sắc cuả ông đã gieo vào lòng độc giả đương thời nhiều ấn tượng tốt đẹp, khơi dậy những khát vọng và hướng họ đến với con đường tranh đấu, con đường cách mạng. Ông là 1 trong ba nhà văn của Đồng Nai được vinh dự truy tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2006.

Nhà văn Lý Văn Sâm sinh ngày 17.2.1921 và mất vào ngày 14.9.2000. Ông sinh ra trong một làng nhỏ ở quê ngoại thuộc vùng rừng ở ấp Ông Lình, làng Tân Nhuận, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa cũ. Quận này nay là huyện Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương. Đây cũng là nơi “quê hương rừng thẳm sông dài” như nhà thơ – chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ từng gọi. Do người Việt lập làng khai phá muộn nên đến thời của nhà văn, nơi đây vẫn còn nhiều cánh rừng hoang vu, kỳ vĩ. Quê nội cuả ông, làng Bình Long, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai ) cũng là một làng nằm giữa vùng rừng núi mà sau này sẽ là một phần của Chiến khu Đ huyền thoại. Vùng đất miền rừng “địa linh sinh nhân kiệt” này đã sản sinh cho văn học miền Nam thời hiện đại những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi như các nhà văn Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Hoàng Văn Bổn, nhà thơ chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ…

Lý Văn Sâm sớm đến với cách mạng qua sự tuyên truyền cuả những người cộng sản đầu tiên cuả Đồng Nai như Phạm Văn Ký, Hồ Văn Đại, Hoàng Minh Châu, Nguyễn Văn Tàng, Nguyễn Văn Lành, những người mà Lý Văn Sâm gọi là các “anh lớn”. Từ năm 1943, ông đã tham gia các hoạt động rải truyền đơn, tuyên truyền cách mạng trong thanh niên học sinh ở Biên Hoà. Tháng 8.1945, ông đã tham gia cách mạng với tư cách là cán bộ Ban tuyên truyền Quận Châu Thành (đơn vị hành chính mới cuả thị xã Biên Hoà). Năm 1946, khi Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ, ông bị Pháp bắt, quản thúc ở thị xã Bình Trước (nay là thành phố Biên Hòa). Sau khi ra tù, bị mất liên lạc với tổ chức, ông mới lên Sài Gòn tiếp tục làm báo, viết văn với các bạn văn là những nhà văn, nhà báo yêu nước như Dương Tử Giang, Hoàng Tấn và tham gia các hoạt động điệp báo cuả Công an Sài Gòn- Chợ lớn trong lòng địch. Ông lại bị chính quyền thực dân bắt, giam tại khám lớn Sài Gòn một thời gian ngắn. Ba năm này (1947-50) là giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Lý Văn Sâm. Năm 1950, trước nguy cơ bị lộ, ông lại được rút ra chiến khu. Năm 1954, sau hiệp định Genevè, ông lại tiếp tục nhận nhiệm vụ ở lại, hoạt động báo chí và văn nghệ trong phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tháng mười một năm 1955, Lý Văn Sâm viết một truyện ngắn có tên là Chuông rung trên tháp đổ, đăng trên tập san XuânDân Tộc, với bút danh Bách Thảo Sương. Tác phẩm phê phán bóng gió nhưng quyết liệt chế độ Ngô Đình Diệm. Do đó, ông bị mật vụ chính quyền Sài Gòn bắt, tra tấn dã man và giam tại Trung tâm Huấn chính Biên Hòa, tức nhà lao Tân Hiệp. Đầu tháng mười hai năm 1956, ông tham gia lãnh đạo tù chính trị nổi dậy, cướp súng phá trại giam, thực hiện vụ phá ngục Tân Hiệp nổi tiếng. Thoát tù, Lý Văn Sâm chính thức ra hẳn Chiến khu, tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia lực lượng văn nghệ Giải phóng.

Những năm công tác ở Ban Tuyên huấn trung ương Cục miền Nam, Lý Văn Sâm lần lượt đảm nhận các nhiệm vụ: chính trị viên đoàn Văn công Giải phóng, Thư ký tòa soạn báo Văn nghệ Giải phóng, Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật (Bộ Văn hoá Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam). Năm 1962, Hội Văn nghệ giải phóng thành lập, Lý Văn Sâm được cử làm Tổng thư ký. Sau 1975, Lý Văn Sâm là Phó tổng thư ký Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội (khóa 6) và nhiều năm là Chủ tịch Hội Văn nghệ Đồng Nai. Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong sự nghiệp sáng tác cuả mình, Lý Văn Sâm viết về nhiều đề tài khác nhau, nhưng căn cứ vào nội dung tác phẩm, có thể chia thành ba mảng đề tài là: mảng truyện đường rừng, mảng viết về cuộc sống đô thị, mảng viết về cuộc sống kháng chiến. Hầu như ở mảng nào ông cũng đều có những sáng tạo, những thành công đáng kể gây tiếng vang trong văn học đương thời. Cố nhà văn Sơn Nam, người bạn văn đương thời của Lý Văn Sâm nhận xét “Nếu không có Lý Văn Sâm, văn học ta chịu một thiệt thòi lớn, không gì bù đắp nổi.”

Trong mảng viết về cuộc sống đô thị, Lý Văn Sâm thường viết về những chuyện thường nhật cuả những nhân vật tiểu tư sản thành thị, về cảnh cơ cực những người dân nghèo thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội trong những truyện ngắn như Lạc loài, Mưa Sài Gòn, Rửa hờn, Ngoài mưa lạnh, Thèm một ngọn đèn, Ngàn sau sông Dịch... Đặc biệt, trong mảng truyện này, chúng ta thấy hiện lên nổi bật nhất là cuộc sống chật vật, khốn đốn từ vật chất đến tinh thần của những người trí thức thành thị nghèo. Họ khổ không phải chỉ vì kiếm sống vất vả, mà còn vì những cuộc bắt bớ, bố ráp, giam cầm xảy ra liên miên. Nhân vật Huyền trong Thèm một ngọn đèn chỉ vì “bị tình nghi bạo động” mà anh phải trải qua hai năm dài lao lý, khi được ra tù thì vợ con đói rách đã phiêu bạt về quê ngoại. Bản thân anh phải sống nhờ vào bè bạn, cũng là những người khổ cực không kém gì anh. Ước mơ cuả anh là khi ra tù sẽ có một chiếc bàn và ngọn đèn để viết, thế mà mãi không thực hiện được. Nhiều chuyện khác viết về cuộc sống thực của người viết văn, làm báo thời đó thực cảm động. Họ viết trong cảnh túng quẫn bần hàn, trong cảnh vợ đói con khóc, trong tiếng eo sèo của các chủ nợ. Họ chết vì không có tiền mua thuốc lúc ốm đau. Nhưng trong hoàn cảnh đó, họ vẫn phải đấu tranh với những cám dỗ vật chất để giữ “sắc đỏ trong lòng người cầm bút”. Trong mảng này cũng có những truyện hay như Nắng bên kia làng, Tàn một đời thơ viết về những trí thức vì một lý do khách quan nào đó đã phải “hồi cư” về thành, thậm chí có những trường hợp sa ngã, đánh mất bản ngã, mất khát vọng nghệ thuật để chạy theo tiền tài vật chất. Nhiều truyện diễn tả rất thật những băn khoăn, trăn trở, xót xa của những con người phải sống cảnh “hàng thần lơ láo”. Những truyện ngắn như vậy, đã tạo một âm hưởng tố cáo, phê phán hiện thực xã hội đương thời, vạch trần tội ác cuả cuộc chiến do quân xâm lược gây ra.

Trong giai đoạn 1947-1954, Lý Văn Sâm còn sáng tác nhiều về đề tài cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc. Trong những câu chuyện này, Lý Văn Sâm đã phản ánh khí thế cuả những ngày khởi nghiã giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám ở miền Nam, những ngày Nam Bộ kháng chiến đầy khói lửa, hy sinh mà cũng thật hào hùng. Cái đặc biệt là đề tài những truyện này hầu như đều hướng về những chuyện rất thời sự của cuộc sống kháng chiến lúc bấy giờ, nhưng vẫn được viết rất nghệ thuật. Những tác phẩm như Nga và Thuần, Mây trôi về bắc, Hoàng hôn sắc tím, Nắng bên kia làng... dù còn phải dùng cách nói ẩn, nói lách để tránh sự kiểm duyệt cuả địch , ông đã phần nào xây dựng được hình ảnh những làng quê kháng chiến, con người kháng chiến, biểu dương, ngợi ca những anh bộ đội, chị du kích, người nữ cứu thương dũng cảm, tận tụy, những bà mẹ làng quê chăm sóc thương binh, tử sĩ, những cuộc tiễn đưa người lên đường đi kháng chiến v.v... Đặc biệt, trong mảng truyện này, đã có những truyện mà trong đó Lý Văn Sâm đã nêu cao lòng yêu nước, lên án những kẻ theo giặc, phản bội giống nòi. Qua mảng truyện này, hình ảnh của một cuộc chiến tranh nhân dân thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ đã được phản ánh trong tác phẩm Lý Văn Sâm, giúp cho người dân thành thị hiểu đúng về chính nghĩa cuả cuộc kháng chiến, về con người kháng chiến. Đó là đóng góp rất đáng quý cuả Lý Văn Sâm.

Lý Văn Sâm còn nổi tiếng về nhiều tác phẩm truyện đường rừng. Đây là mảng mà Lý Văn Sâm có nhiều truyện hay và thành công hơn cả. Vì những câu chuyện đường rừng cuả ông không đơn giản chỉ đem lại cho người đọc những hương vị của cảnh núi rừng hay những phong tục lạ, những chuyện lạ miền ngược như các tác giả khác đã làm mà lúc nào trong truyện của ông cũng có hơi thở của thời cuộc, của những ý hướng tranh đấu.

Trong những truyện đường rừng được viết trước 1945, ông thường xây dựng các kiểu nhân vật như Kòn Trô trong truyện Kòn Trô, Châu Phiên trong truyện Rồng bay trên núi Gia Nhang… Mỗi người một hoàn cảnh, một số phận khác nhau nhưng đều là những người hùng cô đơn, dũng cảm có thừa nhưng cũng đầy thất vọng về cuộc đời, trốn chốn phồn hoa đô thị mà tìm đến nơi rừng xanh núi đỏ, hy vọng có thể lập một cõi riêng có tự do như họ quan niệm. Những nhân vật này đáp ứng khát vọng về tự do, nhân nghĩa, về sự công bằng trong xã hội của người dân trước Cách mạng tháng Tám. Khi người dân Nam Bộ cùng nhân dân cả nước vùng lên giành độc lập tháng 8-1945, rồi ngay sau đó lại bước vào những ngày chiến đấu chống Pháp ác liệt , chúng ta sẽ gặp lại những mẫu nhân vật ấy của Lý Văn Sâm nhưng trong một tư thế khác. Họ đang ở chiến khu ,trên đường hành quân, hay đang chiến đấu, truy đuổi quân thù… Có khi, họ bị đặt vào những hoàn cảnh ngặt nghèo của cuộc chiến nhưng vẫn sẵn sàng hy sinh không tiếc nuối vì chính nghĩa cách mạng, vì đất nước. Những câu chuyện, những nhân vật đó như là lời thúc giục đấu tranh giữ lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc, bởi không có tự do của cả một dân tộc thì cũng sẽ chẳng có tự do nào cho mỗi con người. Do đó, mảng truyện đường rừng của Lý Văn Sâm không chỉ nhiều về số lượng mà còn có ý nghĩa xã hội, có chất văn học đậm đà, đã góp phần khẳng định chỗ đứng của ông trong lòng bạn đọc toàn quốc lúc đó. Nhà nghiên cứu Bùi Quang Huy khẳng định “truyện đường rừng của Lý Văn Sâm là sự bắc cầu từ tinh thần lãng mạn đầy ý nghĩa nhân sinh đến với lí tưởng đấu tranh vì độc lập, tự do, dân tộc theo ánh sáng cách mạng của nhà văn sau này”.

Viết về Lý Văn Sâm, nhà nghiên cứu văn học - GS Trần Hữu Tá đã đánh giá “Là một nhà văn miền Nam tiêu biểu của nửa cuối thế kỷ XX, Lý Văn Sâm đã có đóng góp xứng đáng cho nền văn học dân tộc”.

VŨ TÙNG
Nguồn: NVTPHCM

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...