Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

“Song Tử” và những cơn rung-chấn-tình của người đàn bà thơ

Người đọc từng biết đến Như Quỳnh de Prelle với tư cách là một nhà làm phim, một giọng thơ tinh tế, sâu sắc và không kém phần nổi loạn. Thơ của chị đăng tải nhiều trên các diễn đàn trong nước và ngoài nước. Chị xem không gian internet là sân chơi của thi ca. Chỉ đến khi Song Tử ra đời, người đọc mới có cơ hội nắm bắt những cảm quan thẫm mỹ cũng như sức hấp dẫn, lôi cuốn của ngôn từ trong thơ chị.
Nhà thơ Như Quỳnh de Prelle

Song Tử là tập thơ chị viết dành cho những tưởng tượng của thi ca, thể hiện những tình cảm và sẻ chia cùng anh. Ở đó, tình yêu của người đàn bà thơ với anh - Song Tử, được cài bện trong tình yêu thi ca, tình yêu con người, quê hương, cuộc sống... Anh - Song Tử, là một hằng số vô cùng khơi mãi những thương yêu bất tận. Anh - Song Tử cũng là một hình tượng nghệ thuật ẩn chứa những suy tư vừa kín đáo vừa táo bạo về thế giới của chị.

Những câu thơ Như Quỳnh de Prelle viết như những lời tâm sự, thủ thỉ, tâm tình với anh về tình yêu, về thơ ca, về cuộc sống. Ở đó, chị bày tỏ tình yêu tha thiết, thủy chung, mãnh liệt, bỏng cháy và luôn tìm về sự hài hòa cả về tinh thần lẫn thể xác, khát chờ một hạnh phúc vĩnh hằng, một tổ ấm vẹn toàn. Anh chính là mạch sống đời thơ chị. Chị biết cách nhen nhóm và gìn giữ tình yêu với sự chăm chút đáng quý: “yêu anh yêu anh từng nhịp đập từng nhịp từng nhịp”. Với chị, yêu là phải bùng cháy cảm xúc để tỏ lòng với người mình yêu. Do vậy, sự gắn bó, khăng khít giữa hai người tình không chỉ đo bằng chiều dài của thời gian mà còn được mở rộng biên độ yêu, không gian yêu. Đâu chỉ hiện tại, mà ngay cả cõi mơ, tình yêu ấy vẫn nảy nở, đằm sâu: “Em đợi anh/ Yêu anh/ từng ngày từng ngày một/ như hơi thở/ như những hẹn hò trong mơ/ như những thảng thốt/ bất ngờ” (Anh. Tiếng Việt và quê hương). Yêu như là nhịp thở của nhau và đến khi tràn sang cả cõi mơ thì sức mạnh của tình yêu, nỗi khát hòa nhập được đẩy lên cao hơn.  

So sánh là một trong những phương thức tăng thêm vẻ đẹp của diễn ngôn, của hình tượng được nói đến cũng như gửi gắm nỗi niềm, triết luận của tác giả về cuộc thế. Cấu trúc so sánh được Như Quỳnh de Prelle sử dụng khá nhiều. Khảo sát tập Song Tử, chúng tôi thấy cấu trúc anh là (A + là + B) xuất hiện 23 lần/81 bài thơ. Hình tượng anh trở thành nguồn cảm hứng đặc biệt trong thơ chị:

Song Tử duy nhất của em
anh của em
anh là Tổ quốc của em
trên địa cầu hôm nay

  (Anh. Tiếng Việt và quê hương)

Yêu và nhân niềm tin yêu mỗi ngày bằng gia vị riêng nhưng tất yếu không thể thiếu gia vị của lòng trân quý người tình. Cách so sánh đối tượng cụ thể với đối tượng trừu tượng, mang tính biểu tượng cao, thiêng liêng ở đoạn thơ này là một phát hiện thú vị của chị. Việc lặp lại các từ "của em" góp phần khẳng định tính sở hữu cũng như nhấn mạnh tình yêu bất diệt của người đàn bà thơ đối với anh. Đoạn thơ khác, yếu tố khẳng định đi kèm với các hình ảnh được so sánh xuất hiện liên tục: anh là một cánh rừng màu xanh của em/ là ngôi nhà diệp lục tưởng tượng của em/ là Song Tử/ cho em hẹn hò/ anh là không khí/ cho em thở/ cho màu xanh định mệnh của em/ cho sự thất thường của em/ trong sâu thẳm (Thêm một trái tim ở bên). Người đàn bà thơ biết nêm nếm đúng khẩu vị yêu, muốn khám phá kiệt cùng thế giới tâm hồn của anh. Anh được ví với mọi chiều kích của vũ trụ, xuyên qua lưới thời gian, là ngọn gió thơm mát, là những gì tinh khôi,… trong trái tim người đàn bà thơ. Mỗi cấu trúc thơ mở ra một cánh cửa tình. Cấu trúc anh - cánh rừng: không gian mênh mông ngập tràn sức sống. Anh - ngôi nhà diệp lục: gợi không gian gia đình ấm cúng, đoàn tụ. Anh - Song Tử: mẫu người đàn ông tuyệt vời. Anh - không khí: sự cần thiết để duy trì tình yêu và cuộc sống. Sự bó hẹp dần về không gian ở đoạn thơ trên chính là sự rút ngắn khoảng cách giữa hai người tình. Nỗi khát tình, khát hòa nhịp lòng của người đàn bà thơ đối với anh xuyên suốt, nồng nàn và ngày một lớn thêm.

 “Song Tử” là “những con chữ của tình yêu”, là “mùa em dành cho anh tình yêu bất tận/ sự ân cần và hân hoan” (Bài thơ viết trong vườn). Người đàn bà thơ xem mình là nước. Anh là rừng. Nguồn nước chảy và thấm vào đất, vào rừng những mạch nguồn của tình yêu. Nguồn nước ấy mang đến sự thanh khiết, hòa hợp và sinh sôi nảy nở. Nguồn nước thanh khiết này sẽ tưới tắm, xoa dịu tâm hồn anh. Và cũng là hình ảnh tượng trưng nguồn thụ tinh cho một tình yêu đẹp, luôn chuyển dịch, vận động để tái sinh: “Hơn bao giờ hết, lúc này nàng nhận ra nàng yêu anh biết bao, cần anh biết bao, nàng tiếp tục yêu và yêu yêu như nước quấn quanh rừng, như những mạch ngầm của dòng chảy không tách rời mặt đất kia… nàng là nước, là người đàn bà mang nước để yêu anh như nguồn nước mẹ” (Song Tử). Mạch tình ấy không đơn thuần chỉ là sự hiện hữu qua những hành động (yêu) mà còn như nguồn nước mẹ thấm sâu, lan rộng khắp (quấn quanh, không tách rời). Trên nền gắn kết nàng-anh, nước-rừng, tình yêu nảy sinh, bình dị, son sắt, ngọt lịm, tràn trề, không bao giờ vơi, không bao giờ ngưng.

Nước trong thơ Như Quỳnh de Prelle còn mang biểu tượng phái sinh. Nước tăng thêm sự đủ đầy, thanh nhã cho không gian của tình yêu và vẻ đẹp tâm hồn:

Bảo Bình của anh là em
em chỉ có một Song Tử là anh
trời đất mang anh đến cho em
vũ trụ chuyển hoá anh cho em
một người mang nước có anh
và yêu anh

anh là cánh rừng
em là những dòng nước
chúng ta bao quanh nhau
nước từ trong lòng sâu của đất
nuôi dưỡng mạch nguồn cho rễ của cây
anh chở che em
bằng màu xanh diệp lục
sự chuyển đổi của thời gian
bằng tình yêu
lặng im lặng im
không cần nói bằng lời

     (Song Tử của em)

Ở đoạn thơ trên, cặp đôi cánh rừng-dòng nước bổ sung, tương hỗ mang ý nghĩa thanh tẩy, nhen lên những mầm sống tươi mới, hồi sinh tâm hồn, kết hoa trái tình yêu. Trên tinh thần ấy, nước còn là biểu tượng của vẻ đẹp thiên tính nữ, mềm mại, trong sáng, nảy sinh sự sống mới; là chất kết dính, là sự hòa quyện tuyệt vời giữa cung Bảo Bình và cung Song Tử. Sự chuyển hóa dòng nước tình yêu mát lành từ em sang anh, từ Bảo Bình sang Song Tử và ngược lại, là một quá trình xuyên thấm và bồi đắp liên tục giữa hai trái tim đồng điệu, sống hết mình vì tình yêu. Yêu là phải tự tin, tự thổ lộ với người tình bằng trái tim nồng nàn và rất đỗi ấm áp, mến thương của mình. Vì vậy, tiếng nói thơ chị lúc nào cũng mong mỏi "tìm kiếm sự vẹn nguyên ngay cả khi cái chết cận kề". Quyết tâm đó đã xác tín tiếng nói tự chủ, cá tính nữ trong hành trình tìm sự trọn vẹn tình yêu của người đàn bà thơ.

Khi yêu, ai cũng muốn thấu trọn trái tim người tình. Vì vậy, chị còn đặt ra những giả thiết, lật lại vấn đề: "Em cũng không có cơn mưa nào cho anhnên em thấy anh là giọt nước cho em uống anh trong cơ thể em (Em và anh). Anh là giọt nước tinh khiết bù đắp nguồn sống cho em. Sự luân chuyển, thay đổi vị trí giữa người cho và người nhận, Như Quỳnh de Prelle đã chứng minh sức sống mãnh liệt của tình yêu giữa người đàn bà thơ và anh không bao giờ khô cạn, mãi mãi xanh tươi, quyến dụ suốt mùa yêu. Hơn nữa, khi yêu, người ta luôn có nhu cầu làm mới, nhen lửa tình yêu mỗi ngày. Nhưng nhu cầu nắm bắt, hiểu hết người mình yêu là một hành trình vô tận. Chừng nào còn nhu cầu kiếm tìm tình yêu thì tình yêu còn tồn tại. Người đàn bà ấy không để tình yêu nguội lạnh như lớp tro buồn, hoang hoải: “Em muốn yêu anh lại từ/ hôm nay như một ngày mới/ đang đến, mở mắt ra em/ nhìn thấy anh ở bên và/ có anh trên khắp mọi nơi/ em đến, em đi, ngồi lại”(Người yêu dấu ơi)Chị biết nhân thêm tình yêu và làm mới tình yêu mỗi ngày, biết hòa nhập, đồng điệu với người mình yêu để tôn vinh sự thủy chung và thiêng liêng của tình yêu. Ý thức này một mặt khẳng định tình yêu bền vững, vĩnh cửu của người đàn bà thơ với anh - Song Tử, không gì có thể chia cắt được, mặt khác, hướng con người đến sự trọn vẹn, đến những giá trị tốt đẹp hơn.

Người đàn bà thơ đa cảm, đa tình nhưng không yếu đuối, ngược lại, rất cứng cỏi, bản lĩnh, đầy cá tính. Nỗi khát yêu đôi khi được dồn đẩy, vỡ ra và bứt phá. Nó làm nên lớp sóng yêu dào dạt, chuỗi thanh âm nhục cảm táo bạo cho tập thơ: “anh là thời gian không gian của em/ anh là chú chim non gọi em buổi sáng/ dặn em đi ngủ lúc đêm khuya/ anh là con tinh trùng vô hình/ quẫy đạp em/ sinh sôi/ anh nằm trên ngón tay em/ lặng im lặng im”(Anh đến từ đâu). Đoạn thơ này, yếu tố được so sánh phát huy hiệu lực cao, tăng dần mức độ tình cảm và dừng lại ở hình ảnh nhục thể, hoan lạc, táo bạo. Những cuồng nhiệt của tình yêu, niềm hạnh phúc vô biên tràn ngập thời gian và không gian. Một tình yêu viên mãn. Một sự kết nối tuyệt đích. Ở bài thơ "Thư viết cho người yêu", những từ ngữ đan phối, duỗi theo cơ chế tăng tiến cảm xúc như thèm, muốn, nuốt, hôn, uống, túm, ăn,... dội thẳng vào tâm trí người đọc: “lên cơn nhớ anh thèm anh bất tận/ em muốn được ăn cái lưỡi của anh/ hàm răng của anh/ ăn cả đôi bàn tay dài trắng muốt/ nuốt cả những ngón tay những móng tay sạch sẽ/ em ăn cả cơ thể của anh/ trên ngực anh em gối đầu/ và hôn vào chiếc rốn năng lượng/ em sẽ làm gì tiếp theo/ làm gì nào/ anh yêu ơi// lên cơn nhớ anh thèm anh bất tận/ mùa xuân ngọt lành/ em uống từng giọt từng giọt mồ hôi/ trên 2 cơ thể chúng ta/ em túm từng lọn tóc từng lọn tóc/ khô ơi là khô nước mắt em trào dâng/ ướt đẫm người anh/ em muốn được ăn anh toàn phần/ uống anh từng nụ hôn/ từng giọt nước mắt/ từng giọt mồ hôi/ từng giọt yêu đương từng giọt từng giọt// em đang yêu anh/ yêu anh”. Chúng ta thấy nhịp thơ đoạn này tương đồng với tốc độ cảm xúc tạo nên hiệu ứng nhạc tính của những con chữ và hiệu ứng nhạc lòng của hai người tình. Tất cả níu vào nhau, đan vào nhau theo một chỉnh thể thống nhất và cao trào. Đôi khi lời tình yêu chỉ là những thanh âm chân thật, tự nhiên nhưng vẫn khiến người đọc mê say trong miền nóng ấm của sự giao hòa: Anh che chở em tha thứ em theo nhịp đập từng hồi từng hồi và ngưng lại trên cơ thể mềm mại của em// Em lại chui vào anh nồng nàn tha thiết yêu đương// Có những lúc như thế, chúng ta vỡ ra những những thuỷ tinh và trong veo như những giọt nước mắt không màu đầy ánh sáng của tình yêu và bao dung// Em đang yêu anh yêu anh, Song Tử của em (Chúng ta là một). Đoạn thơ không khai thác rõ những hoạt động tính dục mà chỉ xoáy vào cảm xúc nhục thể bằng ngôn ngữ tinh tế, giản dị, cho thấy cái nhìn đa chiều của Như Quỳnh de Prelle khi nói về say đắm của tình yêu. Dù cảm xúc ào ạt, cháy bỏng hay dịu dàng, kín đáo nhưng có thể nói không một khoảng cách, ranh giới nào chia lìa được hai người tình. Cấu trúc dạng thơ văn xuôi ở đây trải dài như mở rộng thêm biên độ của tình yêu, của cảm xúc trong cơ chế vận động của những thanh âm tha thiết, mê say (che chở, ngưng lại, chui vào, vỡ ra). Nếu thơ tình yêu Vi Thùy Linh được giải tỏa bằng những cơn xúc cảm bạo dạn, được dệt bằng “những trận bạo động chữ” thì thơ Như Quỳnh de Prelle lại có cái riêng khác. Sự mơn trớn, tận hiến được đẩy đến cao trào nhưng vẫn hết sức tinh tế, chừng mực, vẫn giữ được sự dịu dàng, nữ tính của giới thứ hai. Đó là một cơn khát thèm vừa có sự nhã nhặn vừa có sự quyết liệt, vừa khơi gợi vừa kiềm chế được bản năng của người đàn bà đang yêu.

Cô đơn “thuộc phạm trù cái đẹp”, là cú hích sáng tạo đối với người nghệ sĩ. Chọn con đường thơ ca, nghĩa là họ đã chọn cho mình một lối đi riêng khác, thậm chí chịu số phận của kẻ bên lề, phải chịu sự đày ải và những va đập buốt nhói của cuộc sống. Đây là vận mệnh chung của những kẻ dấn thân vào mê lộ đày ải, sống chết vì nghệ thuật. Đây cũng là cảm thức chủ đạo, xuyên suốt chặng đường đến với thi ca của họ. Vận mệnh ấy cũng vin vào Như Quỳnh de Prelle. Bên cạnh những nghiệm sinh về tình yêu, thơ chị cũng viết nhiều về nỗi cô đơn. Chị cô đơn đến nỗi chốn nào cũng không tìm được sự đồng cảm, sẻ chia. Nỗi đơn độc như sợi dây định mệnh đeo bám, vấn vít thơ chị: “nàng lại cô độc/ lại như xưa/ trong những nơi nàng đến nàng qua và ngồi lại/ chả còn ai mong đợi nàng/ đọc nàng nữa/ chả còn ai còn ai” (Nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng). Khi đối diện với nỗi cô đơn, lạc lõng, thơ chị càng đẫm sâu vào nỗi buồn. Nỗi buồn đan từ lớp này sang lớp khác, ken chật con chữ. Chị sắp xếp và đo độ bền chặt từng nỗi buồn của chính mình: …buồn không ngớt; nỗi buồn lặn sâu cào xới những rạn nứt; thấm vào da thịt dòng máu nhiệt đới buồn; em chôn những nỗi buồn vào đá nghìn năm nguyên vẹn; nỗi buồn thời này chất chứa từ bao đời, từ quá khứ, từ hiện tại và tương lai chỉ là hy vọng hão huyền cho sự ảo tưởng khốn cùng,… Tại sao nỗi buồn trong thơ chị rậm đặc, dai dẳng và day dứt như thế? Phải chăng những bất trắc của cuộc sống đập dội, dồn đẩy chị đến mức phải bung ra, vỡ ra cả trái lòng mình? Phải chăng nỗi buồn này sẽ là chìa khóa để chúng ta giải mã, thấu hiểu và đồng cảm với chị qua những ẩn ức đang bật dậy, qua sự tuôn chảy của xúc cảm, của những ký tự đầy biến hóa?

Bản chất của cuộc sống là sự va chạm giữa các mặt đối lập. Con người bị ném trong guồng quay ấy, hệ lụy, cũng chứa nhiều mặt thuận nghịch. Thơ Như Quỳnh de Prelle sử dụng nhiều cặp tương phản, đối lập (được - mất, ánh sáng - bóng tối, chân thành - dối trá, thực - ảo, hạnh phúc - khổ đau,...). Những cặp đối nghịch này xây dựng nên sự đa dạng của gương mặt thế giới và làm rõ tâm thế người đàn bà thơ - hoang mang, chứa đầy mâu thuẫn:

có lúc nàng hạnh phúc
trên tay với những bó hoa hồng
có lúc nàng tuyệt vọng như một đám tang suốt bốn mùa
có lúc nàng nhẹ dạ ngô nghê trao gửi không hề hấn tiếc chi
có lúc nàng tin
tin vào ngọn cỏ
tin vào sự an nhiên
tin vào sự cô độc
tin vào sự kiếm tìm

   (Tuyệt vọng tháng 5)
Tập thơ Song Tử của Như Quỳnh de Prelle (NXB Thuận Hoá)

Vậy nguyên nhân gây nên sự hoang mang có phải từ chủ thể? Như Quỳnh de Prelle lý giải: "chuyện gì cũng hoang mang/ vô vọng/ tình yêu vô vọng/ dân tộc vô vọng/ cái chết vô vọng/ niềm tin ở đâu/ ở đâu"? (Tuyệt vọng tháng 5). Thì ra, trong xã hội này, mọi thứ đều vô vọng. Con người mất hết niềm tin. Nỗi niềm chát đắng, đau buồn của con người không bao giờ nguôi ngoai: trong căn nhà cổ/ em nhìn thấy tổ tiên loài người buồn bã/ như những cơn hen kéo dài/ đậm đặc thuốc men (24h một ngày và 24h/s). Hay một đoạn thơ khác, cuộc đời quá dày đặc buồn đau, con người cứ quẫy cựa mãi cũng không giải thoát được: buồn trái tim hẹpbuồn lý trí ác ônbuồn cả cuộc đờichả vui hết ngàykhi vẫn còn thứckhi vẫn còn nhịp đập (Nỗi buồn tháng 4). Cuộc đời mà chị tái hiện, cái tình người quá đỗi mong manh. Bởi tình yêu cao quý mà tạo hóa ban tặng đâu thể nảy mầm trên cái nền xám xịt này? Vì lẽ đó, chị cho rằng, nơi “cõi thế mù loà dang dở”, tình yêu thương bao giờ cũng là của hiếm:

cuống cuồng yêu đương
cuống cuồng hẹn hò
cuống cuồng hờn giận
cuống cuồng điên rồ
cuống cuồng giao hợp
tình yêu thì hiếm hoi
loài người luôn đói khát sự yêu thương ân cần

                  (Cuống cuồng yêu)

Đến đây, chúng ta đã hiểu vì sao thơ chị viết nhiều về nỗi buồn (58 từ buồn/81 bài thơ). Những nỗi buồn của chị ám ảnh từ ngàn xưa cho đến bây giờ. Nỗi buồn luôn thường trực trong Song Tử, đúng như cách gọi tên của chị: những khúc niệm sinh buồn”. Dấn sâu vào nỗi buồn đau, cô đơn, chúng tôi thấy thơ Như Quỳnh de Prelle càng sắc, càng chân thực, mang đến luồng gió mới trong cách nhìn nhận, đánh giá cuộc thế. Chị chấp nhận cơn đớn đau như một phần của cơ thể trong cuộc nghiệm chứng những bất ổn. Đó là nguyên do để người đàn bà trong thơ chị muốn "ăn cả vạn vật trên thế giới", chào đón cuộc sống bằng con đường khác: nàng muốn ăn cả những lời nói thối tha/ những định kiến/ chả bao giờ đổi thay lịch sử/ những thấp hèn ti tiệnnàng sẽ chết hay tiếp tục tồn tại/ trong thế giới này// sau khi người ta đọc và ăn những bài thơ của nàng bằng mắt, ý nghĩ/ bằng cách nào đó/ nàng tiếp tục viết/ ăn cả loài người/ bằng ngòi bút/ trên bàn phím/ trong khuôn hình màn hình của chiếc Macbook E (Nàng thơ). Nuốt vào cuống họng những mặt trái của xã hội rồi thực hiện theo chu trình nhào nặn của riêng chị là hành động khá táo bạo. Mong mỏi đổi thay ấy minh chứng trách nhiệm và lương tâm rất nhân bản của người nghệ sĩ. Từ chu trình ăn, uống, sa thải của người đàn bà thơ, chúng ta thấy rõ bản lĩnh mạnh mẽ của chị trước mặt trái của xã hội. Chị còn cho rằng:“trong thế giới loài người/ trong đồng loại của mình/ tôi nên biết nhiều hơn/ chia sẻ nhiều hơn/ gặp gỡ nhiều hơn/ viết nhiều hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/ để được mất mát/ đớn đau” (Cuộc thế)Hành động dấn thấn, nhập cuộc, dâng hiến tận cùng vào bể đời này của chị thật đáng quý, thể hiện bản lĩnh và tâm hồn của người nghệ sĩ sống hết mình, cháy kiệt cùng cảm xúc vì thơ vì đời. Thì ra, nỗi đau, nỗi cô đơn đôi khi lại là cơn chấn động đáng quý để kích hoạt trái tim của người nghệ sĩ.

Tồn tại trong bầu sinh quyển mà mọi giá trị chuẩn mực của đời sống đều có nguy cơ viêm nhiễm, lệch chuẩn, liệu con người có thể thoát khỏi nỗi cô đơn, tìm kiếm tự do, hạnh phúc cho chính mình được không? Và khi mọi giá trị bị đổ vỡ, mất hết điểm tựa, việc con người rơi vào trạng thái cô đơn, cảm thấy lạc loài, lẻ loi, rỗng không là tất yếu, là đương nhiên. Lúc này, con người buộc phải chấp nhận sống chung với cõi thế khủng hoảng, hỗn mang. Vấn đề, trước những hỗn mang ấy, chúng ta phản ứng và thanh lọc như thế nào? Như Quỳnh de Prelle không chạy trốn. Chị vạch ra những mặt nạ, những vết mủ ý nghĩ, những định kiến cổ hủ... đang tồn tại, bức tử tự do: tự do của nàng là tự thân nàng/ nàng sinh ra ở một thế hệ khác, thế kỷ khác/ sống một thế giới tưởng tượng khác/ của riêng nàng/ đừng áp đặt lịch sử và không gian với nàng/ nàng bên ngoài tất cả/ nàng chưa bao giờ phải chết đói/ chưa bao giờ phải hấp hối/ đừng nhìn nàng như những định kiến hẹp hòi những tham vọng tối mù/ của những kẻ tầm thường (Nàng thơ). Chị hiểu tự do không nằm ở đâu cả mà nó nằm ngay ở cách đặt vấn đề và xử lý của chính bản thân. Thể hiện tâm trạng cô đơn, lạc lõng, vô vọng, không thể bắt nhịp với cuộc sống một mặt giúp chị cất lên tiếng nói phản kháng, gửi gắm nỗi bất hòa, mặt khác thể hiện ý thức, sự lựa chọn hoàn toàn chủ động của người cầm bút. Vậy, Như Quỳnh de Prelle lựa chọn cô đơn, đón nhận cô đơn để giữ cái tôi, giữ bản ngã không bị “nhào trộn” cũng là giải pháp kiếm tìm tự do cho chính mình và thực hiện quyền năng hiện sinh cho thơ ca đấy thôi: “được sống trong một khoảnh khắc hiện sinh có thật, đó là nàng thơ và quyền năng của nàng thơ”(Thi ca hiện sinh). Càng rơi vào cô đơn, con người ta càng muốn giải thoát, vùng vẫy. Và nhất là khi chúng ta làm chủ được nỗi cô đơn thì nỗi khát khỏa lấp càng mãnh liệt.

Lẽ thường, khi không giải tỏa được những dồn nén, ẩn ức, con người dễ rơi vào trạng thái hoang mang, nghi hồ, thiếu hụt niềm tin, thậm chí nghĩ đến cái chết để giải thoát. Tâm hồn người đàn bà trong thơ chị cũng rơi vào trạng thái chông chênh, bất an, luôn có sự giằng xé giữa bản năng sống và bản năng chết: “nàng sẽ chết hay tiếp tục tồn tại”. Nhưng người đàn bà thơ không bỏ cuộc, không xem cái chết là giải pháp giải thoát bi thương cuộc đời bởi chị luôn biết cách tự đấu tranh với hiện thực, phủ nhận hiện thực. Do đó, cái chết cũng là một hình tượng nghệ thuật, bộc lộ thái độ của chị trước những vấn nạn cuộc sống. Cái chết được chị nhắc đến đâu phải là cái chết u buồn, chấm dứt, đoạn tuyệt với cõi này mà là chết để cứu chuộc, hồi sinh, mở ra những trang đời mớiChúng tôi thống kê, có 56 từ chết xuất hiện (trong tổng số 81 bài). Một tỉ lệ khá cao. Điều này lý giải vì sao những âu lo, bức bối đang chất chứa, thậm chí có xu hướng chồng lấn trong thơ chị. Những phức tạp, ngột ngạt của cuộc sống và phận người đắng đót được chị nhìn nhận dưới con mắt dạt dào tình yêu thương và trần tình bằng cả tấm lòng ấm áp, hi vọng. Chúng tôi xem lời trần tình này là sự đối thoại nhiều chiều và rất thành công của chị: người đàn bà thơ - anh (tình yêu và thi ca) - cuộc thế (đời sống và thân phận).

Cuộc sống trong thơ chị đang ở thì chưa hoàn tất. Mọi dữ liệu đều dở dang, tàn lụi. Đưa ra những "siêu thị mặt" (tên một bài thơ của Trần Quang Quý) như trên, chị muốn phán xét và sắp xếp, hoàn thiện thế giới theo một chu trình nhân ái. Trước những “lời nói thối tha”,những “thấp hèn ti tiện” của thực tại, chị nghĩ loài người cần có lúc chết đi, để hồi sinh, để vận vào đó chiếc áo mới, “lành lặn” hơn:    

có lúc loài người phải chết đi để được tồn tại
trong ý niệm của chúng ta, trở về cái hoang dại thủa xa xưa hay đôi lúc là một loài động vật tự nhiên trong ý thức thoát khỏi các khái niệm và tư tưởng, con người tự do và lành lặn hơn dù có khi muốn giết cái gì đó, ai đó trong tưởng tượng, như giết một lời nói, một ý nghĩ của thú hoang

       (Mặt trời dưới bóng olive già)

Thi sĩ vốn là người sinh ra đã mang nợ với trần gian, là kẻ chịu lưu đày giữa biển đời biển chữ. Họ hiểu và cảm nhận được những gì xảy ra xung quanh và hơn cả là họ hiểu được thực trạng của mình. Mâu thuẫn giữa cái tôi bản thân đời thường với cái tôi sáng tạo giúp người nghệ sĩ nhận ra chính mình, nhận ra cái bản ngã biệt lạ, riêng khác của mình. Vậy việc Như Quỳnh de Prelle đi tìm cái chết cho bản thân giữa sự tươi ròng của không gian và vĩnh cửu của thời gian nghĩa là chị đang bộc lộ khao khát được sống ở một thế giới khác, sáng và đẹp hơn: “và tôi đi tìm cái chết của tôi/ trong sự sống/ trong những tái sinh/ nảy mầm/ trong mảnh vườn/ trên ban công/ bốn mùa nắng mưa/ bão táp” (Tôi. Đi. Đến. Nằm xuống). Quan niệm cái chết như là sự tẩy trần, hồi sinh, chị thấy mình cần phải tiếp tục sứ mệnh kẻ cầm bút: viết nhiều hơn/ để được tồn tại/ được sống/ trải nghiệm/ để được mất mát/ đớn đau (Cuộc thế). Theo chúng tôi, những cảm xúc trực hiện, những diễn ngôn không hề đắn đo, do dự, quả quyết tham dự vào mê lộ thế cuộc này của chị đã xây nên tầng quặng tư duy triết luận và cơn rung-chấn-tình cho tập thơ.

Sự chuyển dịch, song song tồn tại giữa sống và chết, giữa ma trận hợp âm thanh thản - day dứt, nhẹ nhàng - gay gắt, hi vọng - thất vọng, vui - buồn, giữa trò chơi sấp ngửa, trắng đen chữ nghĩa trong thơ Như Quỳnh de Prelle là một chặng đường không bao giờ về đích, không bao giờ dừng lại. Những hợp âm ấy là kết quả của sự bung vỡ nội tâm, của nỗi xót xa trước hiện thực vô cảm, trống rỗng, nhàm chán. Ở cái ngưỡng chênh vênh, thơ chị đã đưa đến tiếng nói khác biệt và đầy cuốn hút.
               
Tâm thức lưu đày cũng là một biểu hiện của sự cô đơn. Tâm thức ấy là tự thân, là máu chảy trong mỗi chữ, mỗi câu thơ. Đọc thơ Như Quỳnh de Prelle, tâm thức cô đơn, lưu đày được hiện diện qua những vần thơ da diết nhớ, khát khao trở về, ăm ắp nỗi buồn tha hương “của người đàn bà ngoài 30 yêu thêm lần nữa/ lần nữa giữa lúc hoang mang/ giữa lúc tột cùng hạnh phúc/ tuyệt vọng” (Thư tháng 6). Sự thiếu hụt một tiếng nói, một bàn tay, một món ăn,... cũng đủ làm trái tim chị tê tái, nhức buốt. Người đàn bà thơ không đòi hỏi nhiều, chỉ cần 1s để nhen ấm bình minh lòng “giữa mùa đông Châu Âu” mà thôi: “sống nửa đời người nhận ra/ giao thừa tái sinh nhân loại/ trong 1s/ được là người An Nam 100 phần trăm/ nguyên sơ/ 1s không hoà nhập thế giới/ tự kỷ trong hình khối của nước mắt trong veo/ 1s để giữ lại dòng máu vẹn nguyên/ 1s là quê cha đất tổ/ là nén hương không khói nhang/ cho một linh hồn còn sống” (Giao thừa 16)Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng yêu thương bỏng nhói như dồn tất cả về đây. Nỗi nhớ cố hương thêm vời vợi, da diết. Mảnh vườn phơi phới mật yêu chị dành cho anh cũng được hòa quyện, đan cài với tình quê. Chị chăm chút tình yêu như lòng say mê, nâng niu từng cọng lá, cành hoa của người làm vườn. Cả hương quê, mùi quê được “cày xới” trên mảnh vườn đong đầy tình yêu của chị: Em trồng rau muống để nhớ tuổi thơ/ em từng làm luống trước nhà/ những hàng rau xanh mát// Em trồng rau mồng tơi để nhớ mẹ già/ và bát canh cua mùa hạ/ mỗi mùa tháng 5 xưa// Em trồng rau dền đỏ để nhớ bà/ và nồi cá kho niêu đất/ ở vùng biển đầy cói xanh// Em trồng cây chanh nhỏ để món thịt gà/ không cô độc trên bàn ăn ngày tết (Vườn treo trên mây). Những ký ức của tuổi thơ, những tình cảm ấm nồng với mẹ, với bà được tái hiện thông qua các hình ảnh rất gần gụi, thân thiết, chan chứa yêu thương. Không khí rộn ràng của tết là khoảng lặng đẹp nhất để người con xa quê hơn nửa vòng trái đất được trở về đầm ấm với gia đình, được an ủi phần nào trong cái giá lạnh của mùa đông nơi phương xa. Cũng chung cảm thức ngóng vọng cố hương ấy, ở một bài thơ khác, tình cảm được đẩy cao hơn khi chị nhìn thấy “một quê hương đầy màu xanh biếc từ chính cõi tâm hồn mình: “buổi sáng thứ 7 làm tôi nhớ chợ quê ngoại/ trong những ký ức xa xưa còn nguyên/ đôi lúc tôi mở ra/ để nhìn thấy một khuôn hình nhẹ nhàng trôi qua trôi lại/ một quê hương đầy màu xanh biếc/ chứa đựng những tần tảo yêu thương vẹn nguyên/ những lần chờ mẹ về cuối tuần/ trên những con đường chúng tôi đếm khoảng cách xa gần bằng những cây cột điện" (Thứ 7 của tháng 7). Ở đây, chúng ta thấy, cảm thức lưu đày không hề rơi vào trạng thái buồn đau, chán nãn, bất lực. Theo chúng tôi, chính chị đã lấy ký ức tươi đẹp để nhen nhánh lửa lòng, xua tan cảm giác lạc lõng, bơ vơ nơi đất khách quê người. Cảm thức về quê hương, nhờ vậy, thêm phần khác lạ, khẳng định, minh chứng được bản lĩnh, nhân cách cao đẹp của Như Quỳnh de Prelle. Và mấy ai đủ tình, đủ sâu sắc, bản lĩnh để có được ý tưởng trồng cả quê hương như chị: 

Em trồng bí ngô để nhớ mùa tỏi thơm lừng bên bếp
Em trồng cả quê hương xa xôi trên vườn treo cùng mây gió
và mặt trời ánh trăng chan chứa tình yêu
Em trồng cho anh cả tình yêu đất đai quê hương cày xới mặn mà

                                      (Vườn treo trên mây)

Khoảng cách và sự chia cắt không làm Như Quỳnh de Prelle đánh mất góc quê tha thiết và thiêng liêng. Dù ở đâu, chị vẫn làm chủ trái tim mình, tìm về cội nguồn dân tộc. Có thể nói, trong thơ Như Quỳnh de Prelle, cảm thức lưu đày không phản ánh trạng thái yếu đuối, ủy mị, bởi vì, tình quê không bao giờ bị bật gốc, không bao giờ có thể xóa bỏ. Tình cảm ấy đã làm nên vẻ đẹp hiện sinh cho tập Song Tử.
               
Song Tử của Như Quỳnh de Prelle tẩy chay mọi ngụy biện và giả tạo. Cứ tuôn chảy, trào sôi tự nhiên như nguồn nước tinh khiết được cất lên từ lòng đất. Đối với Như Quỳnh de Prelle, thơ không đơn giản là cuộc chơi của chữ nghĩa, làm đỏm dáng, kênh kiệu câu chữ mà cái chính thơ chị ngoài việc giải tỏa những dồn nén, ở đó, còn là tiếng nói thiết thực về những đau buồn, những đổ vỡ, trầm luân của thế cuộc. Để chuyển tải ý tưởng và cảm xúc đó, chị rất chú ý đến việc giữ gìn và cách tân thơ ca. Thời đại bàn phím, theo chị, con người hầu hết đánh mất dòng chảy cảm xúc bản năng, tự nhiên khi sắp đặt mọi thứ theo một lộ trình có sẵn, “nhân tạo”: “Những bài thơ nhân tạo được sinh ra từ những tình yêu nhân tạo, thời tiết nhân tạo và không gian sống nhân tạo, cả những cơn ốm nhân tạo để lọc bỏ những cạn bã của một đời sống dư thừa mùi của máy móc và thông tin" (Thơ nhân tạo). Như thế, sự xuất hiện những bài thơ nhân tạo báo động sự biến nhịp, lỗi nhịp của tình người, của đời sống. Ý thức được hậu quả ấy, chị không cho phép ngôn từ thơ mình “sinh ra từ những cuộc phẫu thuật thẩm mỹ của ngôn từ/ độn chữ/ edit mông,/ sửa vú/ kéo dài chân ra/ để dự thi trình diễn/ giả dối/ sinh ra trong cơ hội rủi may/ trong những giọt nước mắt dối lừa/ sự hư danh/ tủn mủn và tắt mắt/ cửa quyền/ quyền của tài năng/ quyền của danh tiếng/ quyền coi thường người khác/ sống dựa vào hơi danh quá khứ lối mòn” (Thi ca và loài người). Trên con đường gánh vác cây thánh giá chữ đầy nhọc nhằn, quan niệm về lao động nghệ thuật của chị thật đáng được chúng ta ngưỡng mộ:

vươn mình lên nghiến những câu thơ
nhạt như khói bay
để bùng lên khát vọng
yêu quê hương
thứ tình yêu màu mè
khoe mẽ
chả có rung động đớn đau nào
nhớ nhung như giả vờ
khốn khổ
tha lương

    (Chào tháng 3 và những cái chết trong tưởng tượng)

Chị luôn vươn lên, sẵn sàng vứt bỏ những tẻ nhạt, tầm thường để sống hết mình với thơ. Hành động nghiến này rất cần thiết cho sự sống còn của nghệ thuật chân chính. Bởi, tình yêu và niềm đam mê con chữ phải xuất phát từ sâu thẳm cõi lòng chứ không phải chỉ để phô trương, cờ biểu rộn ràng. Phải đập vỡ sự nhạt nhẽo, giả tạo bên trong mới mong kiếm tìm được những rung động đích thực.

Ẩn sau mỗi bài thơ của chị là một hệ thống hình ảnh ẩn dụ, đầy tính biểu tượng, mang tính khái quát cao. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ khác lạ, độc đáo cứ thế ngồn ngộn quẫy đạp, bứt phá, vượt qua những gò bó của câu chữ, gợi vẫy nhiều hứng thú. Đặc trưng giản nở của thơ văn xuôi còn giúp chị bung phá cảm xúc và tình ý, giải phóng những chật chội của hiện thực đời sống. Khi chị viết về nỗi buồn, có lúc như một ngọn gió chiều nhẹ nhàng lướt qua, có lúc trào sôi quấy đảo cả bầu trời, có lúc quánh đặc, chà đi xát lại, tê tái. Giải tỏa về nỗi buồn dấm dứ, dai dẳng, chị có cách nói khá ấn tượng: “nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng”. Làm sao cạo/xóa/tẩy hết nỗi buồn về thế cuộc khi chúng tạo sinh quá dày đặc: “nàng đi vòng quanh thành phố nhỏ bên những ngôi nhà cổ xưa hàng trăm năm/ sao mà thấy cuộc đời buồn bã/ loài người sống thật ngắn ngủi cho những cơn đau/ cơn đau tình ái/ cơn đau bệnh đời/ cơn đau của cái chết/ của những sai lầm oán hận/ của đường đi phải hay trái trước con đường về nhà/ nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng/ sự đớn đau đang héo mòn của nàng/ tình yêu mồ côi của nàng” (Nắng không thể cạo hết nỗi buồn của nàng). Không gian trần thế tối tăm, đặt con người trước những thử thách, phải tự vùng vẫy, tự đấu tranh để tìm lối thoát. Cho nên, nỗi đau đời,  nỗi buồn của người đàn bà thơ cứ dấm dẳng trong thơ chị. Chúng tôi xem đó là nỗi buồn đẹp, trong sáng, kiêu sa, không bị che phủ bởi các quầng mây đen như chị đã tuyên ngôn: “nàng thơ, một hình hài cụ thể của một người đàn bà An Nam bình thường. thi ca của cô ấy kết nối những con người cô độc, chạm vào cõi lòng đang chơi với, đang kiếm tìm mơ hồ để tiếp tục được sống, được ngẩng đầu lên” (Thi ca hiện sinh).
               
Những băn khoăn, trăn trở của Như Quỳnh de Prelle về nỗi buồn, cái chết, cuộc thế,... trong tập “Song Tử” bật lên sự sâu sắc và tinh nhạy của một cái tôi đa diện. Xuất phát từ điểm nhìn của người đàn bà thơ đang yêu nên mọi cảm xúc đều được đẩy đến tận cùng. Ngay cả cái thế giới bừa bộn kia cũng bị bóc tách theo cơ chế vận hành của tình yêu. Tình yêu nối kết người với người nhưng tình yêu cũng làm nên lớp ngôn từ hiện sinh để xóa bỏ, chọc thủng những ý nghĩ nhơ nhớp, đen tối. Nghiệm sinh mọi thứ qua hình tượng nghệ thuật - anh - Song Tử, chị đã tưới lên mùa Song Tử sự tươi mới, mạnh bạo nhưng vẫn hết sức chân thành, đậm tính nữ.
               
Cày ải tư duy và gieo chữ trên cánh đồng nào, Như Quỳnh de Prelle cũng thể hiện sự cởi mở và táo bạo. Khát vọng giãi bày yêu đương của chị hết sức nhân văn. Nó chứng tỏ bản lĩnh cũng như cá tính nữ của chị. Hành trình đi tìm bản thể, hạnh phúc, sự tự do của chị không dừng lại ở một không gian thời gian nào, mà luôn chuyển động. Nếu xem “Thơ vừa là chỗ dừng chân vừa là cuộc hành trình” (R.Gamzatôp) thì chúng tôi xem sự chuyển động tình cảm, sự chuyển động ngôn từ trong tập “Song Tử” của Như Quỳnh de Prelle như một một dòng sông đầy ma mị, luôn ẩn chứa các lớp sóng ngầm, miết mải bồi đắp nên những hình tượng thơ đẹp, mang tính nghệ thuật cao. Với một lối viết đầy cảm xúc, đầy lý trí và đầy ắp phù sa chữ nghĩa như thế, thơ chị không hề mòn vẹt, nhàm chán. Chúng tôi tin, dòng sông thơ của chị không bao giờ đứng yên, luôn vươn tới, khám phá và tận hiến vùng đất mới.

20.12.2016
HOÀNG THỤY ANH
Theo NVTPHCM

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:




Nguyễn Minh Ngọc - những trang văn lưu giữ dấu chân người

Nhà văn, Đại tá Nguyễn Minh Ngọc sinh năm 1957. Quê quán: làng Quang Dụ, xã Đức Quang, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Tác phẩm đã xuất bản: Cành mận trắng (tập truyện, 1997); Một thời và mãi mãi (tập ký, 2001); Một cõi ấu thơ (truyện dài, 2002); Bay đêm (tập truyện, 2002); Đất thiêng (truyện dài 2 tập, 2003); Chị Ngần (tập truyện, 2004); Trong nắng gió Trường Sa (tập ký, 2006); Người đàn bà trước biển (tập truyện; 2007). Giải thưởng văn học: Giải Nhì truyện ngắn Cây bút vàng (1996-1998); Giải nhất cuộc thi ký Khánh Hòa xưa và nay; Giải A, Giải thưởng Bộ Quốc phòng 5 năm về VH-NT-BC cho bút ký Trong nắng gió Trường Sa (1999-2004).
Nhà văn Nguyễn Minh Ngọc

Tiếng rằng ở hai tỉnh khác nhau nhưng làng Quang Dụ quê Nguyễn Minh Ngọc và làng Trung Yên quê tôi cách nhau chỉ một con sông: Sông Lam, một bến đò ngang: đò chợ Tràng. Ngày tôi còn nhỏ, cửa hàng mua bán nơi cha tôi làm việc đặt ngay chợ, mỗi lần đến với cha, tôi lại say mê đứng ngắm con đò chở khách qua sông. Sông Lam đoạn chợ Tràng rộng, sau vài nhịp chèo quẫy sóng của người lái con đò trông chỉ còn như chiếc lá mỏng manh giữa dòng. “Sông đẩy bờ trôi xa, xa mãi…”, tôi ngắm dòng sông thấy vậy mà không phải vậy, chính con đò ngang ấy hàng ngày đã đẩy bờ trôi xa, kéo bờ gần lại. Vì tò mò, một hôm tôi đánh liều làm khách lên đò đi sang bờ bên kia thám hiểm làng Quang Dụ của Ngọc. Vẫn tre pheo, vườn tược, vẫn những cây duối già quả chín vàng gọi mời chim trời và con trẻ như ở làng tôi... Giá ngày ấy biết Nguyễn Minh Ngọc, hẳn tôi đã ghé nhà anh chơi. Vậy mà phải hơn 20 năm sau, khi quá nửa làng Quang Dụ đã lở chìm dưới đáy dòng Lam, còn chúng tôi con của hai làng thì đều đã trưởng thành, Nguyễn Minh Ngọc làm một anh bộ đội, tôi làm một cán bộ biên tập ở tờ Văn Nghệ Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa chúng tôi mới có dịp quen nhau.

Văn Nghệ Nha Trang là một tờ tạp chí cấp thành phố, nhưng do vị trí địa lý đặc biệt của thành phố mà nó mang tên và do quan niệm cởi mở của những người chủ trương, nên quy tụ được khá nhiều những cây bút có tên tuổi trong tỉnh và trong nước. Một hôm có một chàng Trung úy trẻ tìm đến tòa soạn gửi thơ, đọc tên tác giả ghi ngoài phong bì tôi biết anh là Nguyễn Minh Ngọc. Tôi chọn đăng của anh một bài, nội dung nói về tâm trạng của một người lính (tác giả?) khi đi tìm người yêu trên phố Nguyễn Khắc Cần, Hà Nội mà không gặp. Chúng tôi quen nhau từ đó. Nguyễn Minh Ngọc còn đến chơi với tôi nhiều lần nữa, nhưng nói chung thơ anh không gây cho tôi một ấn tượng gì, đọng lại đến giờ may ra còn bài Lời ru, với những câu lục bát dung dị: Ru con bằng những câu Kiều/ Cha mang theo mỗi sớm chiều hành quân…. Bài thơ này Nguyễn Minh Ngọc đề tặng nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.

Vì sao tặng Nguyễn Trọng Tạo? Tôi thắc mắc chưa kịp hỏi anh, sau đó chuyển công tác về Nghệ, quên mất. 25 năm sau, trưa chủ nhật 14-10-2012 dịp may đến. Nguyễn Trọng Tạo sau khi xong nhiệm vụ làm Trưởng ban Giám khảo Liên hoan tiếng hát các trường nghề khu vực Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long năm 2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Cần Thơ, trên đường ra Bắc ghé TP. Hồ Chí Minh chơi, kéo tôi ra số 3 Phạm Văn Hai nhậu. Khi tới nơi chúng tôi thấy Nguyễn Minh Ngọc và mấy người bạn đã ngồi chờ sẵn đấy. Nhậu sần sần, anh Tạo kéo Nguyễn Minh Ngọc đứng dậy song ca bài hát Giờ này anh về đâu của V.X Xê-đôi, nổi tiếng trong các cựu binh Xô Viết sau chiến tranh thế giới thứ hai: ...Giờ này anh về đâu, hỡi người bạn cũ cùng trung đoàn/ Đã sánh bước cùng tôi trên con đường xa ?/ Nếu giờ này bạn hiền còn thiếu một gia đình/ Xin mời bạn đừng ngại ngùng về chốn quê tôi...

Là nhà thơ, Nguyễn Trọng Tạo còn là nhạc sĩ, vì thế dù trải nhiều rượu bia thuốc lá anh vẫn biết cách làm cho giọng ca của mình nghe hấp dẫn. Nguyễn Minh Ngọc trái lại, trình độ âm nhạc nốt đen nhầm nốt trắng, móc kép tưởng móc đơn, lấy liều mạng làm căn bản, hát hết mình. Nhìn hai nhà văn, một đang mặc áo lính và một từng một thời mặc áo lính say sưa hát, tôi bỗng thấy cay cay nơi khóe mắt. Chẳng biết vì ca từ đẹp hay vì “giọng ca vàng” của các anh mà khi bài hát xong lời Việt, chuẩn bị chuyển sang lời Nga thì nhiều khách nhậu ở các bàn bên cùng ùa tới bàn chúng tôi cụng ly và hòa giọng. Cuộc nhậu hóa thành một buổi liên hoan văn nghệ tưng bừng. Đến đây thì tôi hiểu, hóa ra ngày mới nhập ngũ Nguyễn Minh Ngọc cùng ở E 22B, sư đoàn bộ binh Sông Lam với Nguyễn Trọng Tạo. Một trung đoàn sinh ra hai nhà văn, tiềm năng của Quân đội ta thật đáng nể.

Nhưng Nguyễn Minh Ngọc ở bộ binh không lâu, đến cuối năm 1975 anh được điều động về quân chủng Phòng không – Không quân, nơi từng là cái nôi cất cánh cho những nhà văn nổi tiếng trên văn đàn Việt như Đỗ Chu, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khắc Trường, Dương Duy Ngữ… Và đây cũng chính là môi trường lý tưởng cung cấp chất liệu giúp anh hoàn thành những Một thời và mãi mãi (tập ký), Bay đêm (tập truyện)… những tác phẩm góp phần làm nên tên tuổi nhà văn Nguyễn Minh Ngọc sau này.

Đóng quân ở Trại Cờ, Phố Thắng, Hiệp Hòa, Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) hàng quý nhà văn tương lai của chúng ta lại được xuôi Hà Nội một lần nộp báo cáo. Ngày ấy cơ quan Cục kỹ thuật quân chủng Phòng không – Không quân đóng trên đường Tàu Bay, con đường cũ kỹ đầy bụi bặm, rợp bóng xà cừ. Ngoại trừ thi thoảng được bám xe đơn vị, còn thì cứ phải rồng rắn xếp hàng mua vé xe ca đi hai chặng đường mới tới được bến Nứa. Từ đây anh tìm cách lần về trạm khách tồi tàn ngay lối vào kho gạo Ngã Tư Sở, cạnh cái hồ nước mọc đầy cây đại bi. Sau này, một đôi lần hăng hái, Nguyễn Minh Ngọc mượn xe đạp guồng từ phố Thắng, vượt bến đò Lo sang chợ Chờ, băng qua Từ Sơn xuôi về Hà Nội. Bao giờ cũng vậy, sau khi hoàn tất công việc anh tản bộ ra gò Đống Đa đón tàu điện về Bờ Hồ tìm đến hiệu sách quốc văn ngắm nghía và chọn mua (khi có tiền) những cuốn sách văn học mà anh ưa thích đem về doanh trại nghiền ngẫm.

Với những người cầm bút thì thâm nhập đời sống, làm giàu vốn liếng chữ nghĩa là việc phải làm suốt đời; Nguyễn Minh Ngọc cũng vậy, anh học hỏi mọi lúc mọi nơi, nhưng những năm ở Hà Bắc đặc biệt quan trọng, nó giúp anh trải nghiệm, thấm thía hồn cốt, thổ ngơi của đất nước con người xứ Bắc mà lần đầu tiên trong đời anh được sống, khiến cho những trang viết của anh sau này trở nên lấp lánh hơn.

Năm 1983, sau khi tốt nghiệp lớp sĩ quan chính trị trường Chỉ huy - Kỹ thuật Không quân Nha Trang, anh được giữ lại làm công tác tuyên truyền. Cương vị mới buộc anh phải viết bài phản ánh các hoạt động của nhà trường và làm “tà lọt” cho một số cây bút đàn anh đến tìm hiểu viết về không quân. Nhờ vậy, vừa nhập môn nghề văn anh đã may mắn được cụ Kim Lân đọc bản thảo và nói cho một câu đầy khích lệ: Văn của cậu rất trong sáng. Từ câu nói của bậc tiên chỉ, anh quyết định đoạn tuyệt với thơ để chuyên chú văn xuôi, thử sức mình ở nhiều thể loại: ký, truyện ngắn, truyện dài đủ cả. Năm 1984, Nắng Phan Rang, bài ký đầu tiên trong đời cầm bút của Nguyễn Minh Ngọc ra đời, được in trong tập Mái trường - Đàn chim.

Nguyễn Minh Ngọc có duyên với ký. Tính đến nay, trong tám đầu sách anh xuất bản, có đến hai tập ký và trong ba giải thưởng văn học anh được nhận thì có hai giải được trao cho ký. Trong đó đáng kể là bút ký Trong nắng gió Trường Sa (giải A, giải thưởng Bộ Quốc phòng). Để có bút ký này, đầu năm 2002 Ngọc đã phải “đi chui” ra quần đảo. Nói “đi chui”, vì năm 1987, anh đã được mời đi Trường Sa nhưng đơn vị chủ quản nhất quyết không cho. Rút kinh nghiệm, lần này khi nhận được giấy mời của UBND tỉnh Khánh Hòa anh lẳng lặng xin nghỉ phép và nhập cùng đoàn cán bộ của tỉnh ra thăm những Sinh Tồn Đông, Sinh Tồn Lớn, Cô Lin, Len Đao, Đá Tây… nửa tháng trời, viết được hai bút ký và hàng chục bài báo phản ánh cuộc sống hàng ngày của quân dân ta trên quần đảo.

Nhận giải thưởng Bộ Quốc phòng xong, cuối năm 2004 Nguyễn Minh Ngọc được điều về Nxb Quân đội Nhân dân. Ngày 10-3-2005, Giám đốc Nxb giao anh nhiệm vụ rời Hà Nội vào TP. Hồ Chí Minh làm Trưởng đại diện chi nhánh. Đáng lẽ phải ra ga Hàng Cỏ mua ngay vé tàu nằm thì anh lại ghé Trần Đăng Khoa chơi. Nhà thơ chẳng rượu chè gì, tiễn bạn bằng cách kéo ra nhà sách Đông Tây ở đường Nguyễn Chí Thanh mua tặng một ba lô sách, trong đó có tiểu thuyết Đảo chìm của Khoa. Khi Nguyễn Minh Ngọc ra đến ga thì vé nằm hết, anh đành đi vé ngồi tàu E1, ghế số 14, toa 3. Đến 23 giờ đêm 11-3 tàu xuất phát, bắt đầu một chuyến đi kinh hoàng. Trưa hôm sau tàu đến Lăng Cô, cũng là khi Nguyễn Minh Ngọc đọc xong trang cuối cùng tiểu thuyết Đảo chìm. Anh gấp sách nghỉ ngơi thì bỗng nghe rầm một tiếng, cả đoàn tàu vụt bay khỏi đường ray đổ ụp xuống đất, hai toa 7, 8 ở giữa bị bẻ gãy đôi, toa số 3 Ngọc ngồi đổ ngang, cửa kính vỡ loảng xoảng. Nằm trong tiếng la hét hoảng loạn của khách đi tàu, Nguyễn Minh Ngọc bình tĩnh xem đồng hồ tay, đồng hồ chỉ con số 11h 49’ ngày 12-3-2005. Vuốt máu mặt, anh đập kính chui qua khung cửa sổ ra ngoài. Sau này ngẫm lại, Nguyễn Minh Ngọc thấy phải cám ơn Trần Đăng Khoa, cám ơn Đảo chìm. Vì muốn ghé thăm Nhà thơ mà anh không mua được vé nằm, phải đi vé ngồi. Và vì bận đọc Đảo chìm mà anh không đi lang thang trên tàu, nên được bình an. Nếu mua được vé nằm, hôm ấy chắc chắn anh không thể tai qua nạn khỏi. Và thế là bút ký Chuyến tàu định mệnh ra đời.

Viết ký, Nguyễn Minh Ngọc có nhiều quan sát tinh tế, chẳng hạn: “…Thói quen quan tâm đến những người chung quanh đã tạo nên nét đẹp trong cách ứng xử của người Sài Gòn. Bạn đi xe máy trên đường lắm khi quên gạt chân chống nghiêng, hoặc không nhớ tắt đèn pha ư? Chẳng sao cả, dù đường phố đông nghẹt vẫn có người bên cạnh nhìn thấy và nhắc bạn biết để tránh những điều đáng tiếc xảy ra...”

Đoạn văn trên tôi trích trong bút ký Thành phố lưu giữ dấu chân người của anh, in báo Văn nghệ năm 2005 mà tôi ngẫu nhiên bắt gặp khi giở lại tập báo cũ, nhưng nó cũng tiêu biểu cho bút pháp văn xuôi của Nguyễn Minh Ngọc, một bút pháp chuộng cổ điển, thiên về ngợi ca. Anh am hiểu đời sống, nhạy cảm, có lòng yêu quý trân trọng những việc tốt, người tốt dám xả thân vì nghĩa lớn, lại thông cảm, bao dung với những người nghèo khó, thất thế, cùng quẫn, sai lầm trong cuộc sống. Người đàn bà trước biển, tập truyện ngắn xuất bản gần đây nhất của anh hay Cành mận trắng xuất bản năm 1997 đều vậy. Trong các tác phẩm của mình dường như Nguyễn Minh Ngọc muốn chứng tỏ hai điều: một là, trân trọng, thương yêu những người lao động cần cù, chân thật, dũng cảm, hai là mong muốn suy nghĩ và hành động của con người phải luôn hướng thiện. Đây là hai vấn đề có ý nghĩa quan trọng, giàu tính nhân văn trong đối nhân xử thế. Triển khai hai chủ đề này, tác giả để các nhân vật chính trong các tác phẩm của mình chủ yếu tập trung vào hai loại người, phụ nữ và người lính. Có thể vì tác giả sống nhiều ở nông thôn, gần với những người lao động – trong đó phụ nữ vất vả hơn cả; mặt khác anh là người lính lâu năm, hiểu kỹ đồng đội của mình. Cho nên người phụ nữ và người lính trong truyện phần lớn là người tốt, nếu không phải là những tấm gương mà ta có thể soi vào để ngộ ra nhiều điều… Ngay trong kịch bản phim Cao hơn bầu trời, một bộ phim truyền hình dài 50 tập mà anh vừa hoàn thành và đang được Hãng phim Giải phóng bấm máy để kịp ra mắt trong dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không cũng vậy. Nhân vật chính là những chiến sĩ, những nữ dân quân tự vệ đã không quản máu xương làm nên chiến thắng.

Sau 20 năm cầm bút, năm 2003 Nguyễn Minh Ngọc vinh dự được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Nhân dịp này từ quê hương Hà Tĩnh, cô giáo Phạm Thị Lài dạy văn cho anh hồi lớp 8 đã ghép tên những tác phẩm của người học trò cưng năm nào thành một bài thơ tặng thú vị: Đất thiêng thiêng mãi Chị Ngần/ Ngắm Cành mận trắng nhớ lần Bay đêm/ Trường Sa nắng gió đảo điên/ Người… trước biển vẫn vững bền chí trai...

Đối với Nhà văn, Đại tá Nguyễn Minh Ngọc, một người luôn biết quý trọng những giá trị nhân văn của cuộc đời, như những câu Kiều trong bài hát ru thuở nào, đây có lẽ mới là phần thưởng lớn nhất.

NGÔ XUÂN HỘI
Theo Văn Nghệ 48/2012

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2018

Gặp gỡ cuối năm và những đối thoại trước thềm năm mới

Mỗi dịp tết đến xuân về, đọc lại Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, độc giả vẫn “gặp gỡ” nhiều điều thú vị. Tiểu thuyết được viết năm 1981, cách đây đã 37 năm, trong một sinh quyển ít nhiều khác biệt. Nhưng những vấn đề đặt ra trong truyện vẫn chưa cũ, vẫn có sức quyến rũ đối với người đọc hôm nay.
Nhà văn Nguyễn Khải

Gặp gỡ cuối năm - đúng như cái tên của nó - kể về cuộc gặp gỡ tại một bữa tiệc tất niên. Chị Hoàng - chủ nhà, chủ trì - đã khiêm nhường thông báo trước là bữa tiệc “rất xoàng”, vì thế, mỗi vị khách có mặt cần phải góp một câu chuyện thật hay để bữa tiệc thêm phần hấp dẫn. Bà chủ nhà bí ẩn này như đang muốn lắng nghe, đồng thời muốn bày tỏ một điều gì đó quan trọng khi năm cũ kết thúc, năm mới bắt đầu.

Cuộc gặp gỡ tiến diễn hết sức tự nhiên. Việt - nhà văn quân đội, người kể chuyện - đến sớm nhất. Sau Việt là anh Quý - luật sư, từng là viên chức của bộ ngoại giao ở chế độ cũ. Anh từng rất thành công trong sự nghiệp nhưng rồi anh bị rơi vào mặc cảm thất bại. Sau bao nhiêu trải nghiệm cuộc sống, bây giờ anh muốn né tránh mọi chuyện, cười nói như một kẻ vô tâm. Nhưng đó chỉ là cái vỏ bề ngoài, trong thâm tâm anh là cả “một nỗi niềm, một chí hướng, một nhớ tiếc nào đó”. Đến thứ ba là vợ chồng anh Hảo. Anh Hảo là luật sư được đào tạo ở Pháp, từng làm tri huyện nhưng sớm treo ấn từ quan để đi theo kháng chiến, từng được giao giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền cách mạng. Là một “công tử” đi làm cách mạng, có lúc anh được tin tưởng, có lúc bị nghi ngờ nhưng lúc nào anh cũng sống đúng là mình, “dám nói to những điều anh cho là đúng”. Người đến thứ tư là anh Đại, đã tám mươi tuổi nhưng vẫn rất galant và hóm hỉnh. Anh trước kia là kĩ sư hóa học được đào tạo ở Đức, không theo khuynh hướng chính trị nào nhưng ủng hộ nhiệt tình tất cả các phong trào yêu nước. Anh bị bắt, bị tù đày, bị mất hết gia sản cũng chỉ vì yêu nước. Đến thứ năm là anh Chương và Bình. Anh Chương là người có hai bằng tiến sĩ, một luật, một văn chương. Anh từng giữ các chức vụ quan trọng: viện trưởng một viện đại học, bộ trưởng quốc gia giáo dục, làm thượng nghị sĩ trong nhóm đối lập. Sau khi hòa bình được tái lập anh phải đi cải tạo rồi trở về làm một người dân thường, tâm tính đã có nhiều thay đổi. Còn Bình thì trẻ, đẹp trai, lịch thiệp, năng động, mới tốt nghiệp đại học vài năm nhưng đã là giám đốc một công ti. Theo nhận xét của anh Hoàng thì Bình “lịch sự, tinh tế như Pháp mà lại nhanh chóng, thiết thực như Mĩ”. Đến thứ sáu là Quân. Dưới cái vỏ bên ngoài là một nhà báo quốc tế, Quân tham gia công tác tình báo đã nhiều năm. Từng gặp rất nhiều loại người, phải đối diện với rất nhiều hiểm nguy nhưng Quân vẫn một lòng vì lí tưởng cách mạng. Quan điểm sống của Quân rất rõ ràng: “Quốc gia hữu sự, kẻ thất phu còn phải gánh trách nhiệm huống hồ là anh trí thức”, “Làm người đã khó, làm trí thức lại càng khó hơn. Hàng ngày phải lựa chọn, từng việc phải lựa chọn, lầm lỡ một chút là tiếng xấu để đời”.

Điểm qua các thực khách được mời dự tiệc tất niên, có thể khẳng định đây là cuộc gặp gỡ của trí thức thuộc nhiều thế hệ khác nhau, từng đứng ở các vị trí chính trị đối lập nhau. Sự góp mặt của các nhân vật có cuộc đời không hề “nhạt nhẽo” này dự báo câu chuyện đêm giao thừa sẽ có nhiều bất ngờ thú vị.

Cuộc gặp gỡ diễn ra trong không khí thân mật ấm cúng và đầy cởi mở như ý của chủ nhà. Chỉ trong thời gian một bữa tiệc, bao nhiêu câu chuyện hấp dẫn đã lần lượt được kể ra, chuyện xưa có, chuyện nay có, chuyện kinh tế, chính trị, tôn giáo, văn hóa, khoa học… đều có. Sau mỗi câu chuyện, người dự tiệc lại đưa ra những lời bàn thể hiện quan điểm cá nhân của mình. Hình như trong lòng mỗi người đều ăm ắp tâm sự, chỉ mong có cơ hội để được phơi trải, giãi bày. Từ câu chuyện về cách ứng xử kì quặc để thể hiện khí tiết của Nguyễn Thế Truyền, Quân cho rằng đó là kiểu “trí thức trùm chăn” và anh nêu rõ quan điểm của mình về cách hành xử cần có của người trí thức khi đất nước lâm nguy. Câu chuyện về “chú Phùng” và các mối quan hệ phức tạp đầy bất ngờ của nhân vật này với nhân viên C.I.A thể hiện nhận định riêng của Quân về các mối quan hệ phức tạp của các nước trong chiến tranh Việt Nam. Vấn đề lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể trong làm ăn kinh tế, mối liên hệ giữa miếng cơm manh áo và lí tưởng sống, sức mạnh của đồng tiền… được Bình nói đến bằng những câu chuyện đời thường hết sức sinh động. Rồi câu chuyện về những ngày sống ở Mã Đảo của anh Đại. Thoạt đầu tưởng chỉ là một câu chuyện “nhạt” của một ông già đã mất hết sự minh mẫn, nào ngờ chứa trong đó là nhiều câu chuyện về âm mưu, thủ đoạn và sự giành giật đến kinh hoàng. Rồi câu chuyện về thiền của anh Chương, anh Hảo cũng được mọi người hưởng ứng sôi nổi. Đâu chỉ là chuyện thiền, đó còn là chuyện nhận thức cuộc sống, lựa chọn cách sống, tâm thế sống trước những biến động. Câu chuyện tử vi số mệnh cũng thu hút sự quan tâm của cả người già và người trẻ. Từ chuyện tử vi, vai trò của con người trong việc chủ động hoán cải số mệnh đã được củng cố. Anh Chương không ngần ngại bày tỏ nỗi đau đời, sự mệt mỏi của bản thân trong cảnh ngộ hiện tại. Câu chuyện tranh giành quyền lực và sự chi phối của đồng tiền đến việc hình thành đại cục trong chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước kia được anh Chương và Quân nói đến một cách say sưa. Anh Đại và Bình quan tâm đến mối quan hệ giữa đồng tiền và nhân cách… Cứ thế, mỗi câu chuyện hé mở một điều mới mẻ về sự thật trong quá khứ, sự thật đang diễn ra và cuộc đối thoại bình đẳng cất lên những tiếng nói cá nhân sâu sắc.

Gặp gỡ cuối năm, như vậy, là “hội nghị bàn tròn” của những người trí thức về các vấn đề xã hội. Trong “hội nghị” này không có sự phân biệt tuổi tác, vai vế, tư cách chính trị, mỗi người đều được quyền nói thẳng nói thật những nhận thức, quan điểm cá nhân của mình. Tác phẩm ra đời năm năm sau khi chiến tranh kết thúc. Đây là lúc những khách mời nhìn lại lịch sử, nhìn lại chính mình sau độ lùi thời gian cần thiết để rút ra bài học cho hiện tại và tương lai. Quân và Quý có chung nhận định, không ai có thể đứng ngoài chính trị, ngay cả những người nói là họ không quan tâm đến chính trị thì “không quan tâm” đã là một thái độ chính trị rồi. Vì thế mà mỗi người, đặc biệt là mỗi trí thức, phải hết sức thận trọng, “từng ngày phải lựa chọn, từng việc phải lựa chọn”, “lầm lỡ một chút là tiếng xấu để đời”. Anh Chương - người một thời lầm lỡ - khẳng định, đã là trí thức thì không ai bán nước cả, anh Hảo thành công do đi đúng đường, còn mình thất bại là do buổi đầu lựa chọn đường đi không đúng. Với anh Đại và Bình thì con người cần có lòng tự trọng. Khi đất nước có ngoại bang xâm lược, lòng tự trọng thể hiện ở việc đóng góp sức người sức của cho đất nước, ở thái độ bất hợp tác với kẻ thù; còn thời bình, lòng tự trọng thể hiện ở việc chiến thắng những ham muốn vật chất của cá nhân, dám từ chối quyền lợi cá nhân khi quyền lợi ấy mâu thuẫn với lợi ích tập thể. Bình quyết liệt hơn khi nói tới vấn đề đồng tiền…

Mỗi nhân vật đề cập đến một vấn đề khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến trả lời câu hỏi: Phải sống thế nào trong năm mới, trong tương lai khi năm cũ, quá khứ đã khép lại? Anh Quý nguyện sẽ không vì “mưu cái lợi riêng mà nỡ phá phách sự nghiệp chung”. Anh Chương chỉ mong muốn được trở về với gia đình, làm một người chồng, người cha tốt. Anh Hảo vẫn tiếp tục chọn cách sống thuận theo tự nhiên bởi anh đã tìm thấy ở đó sự an lạc. Bình khẳng định, nếu người trẻ để sức mạnh đồng tiền cám dỗ thì sẽ mất tất cả. Quân mong muốn được là “một cái gì đó trong khoảnh khắc ta đang sống, là một sức đẩy dẫu là yếu ớt vào cái dòng lưu chuyển chung”. Chị Hoàng tỉ mẩn chuẩn bị bữa tiệc mà mỗi món là một món khoái khẩu đối với từng khách mời; chị còn chọn mặc bộ quần áo đẹp nhất, sang nhất trong thời khắc chuyển giao năm cũ và năm mới. Chị Hảo, chị Bơ cũng góp thêm mấy món ăn thật tết, thật truyền thống mà mình kì công làm để mời mọi người… Dù mỗi người mang một nỗi niềm, một tâm sự riêng nhưng đến giờ phút giao thừa, không ai bảo ai, tất cả cùng hân hoan nâng li chúc mừng năm mới. Qua cuộc gặp gỡ, đối thoại của các nhân vật, người đọc được phản tỉnh: Nên sống giản dị, thuận theo tự nhiên, không tham lam, không vị kỉ, nên hết sức tỉnh táo để không lầm đường lạc lối, không xa rời mục tiêu chung của dân tộc, nên là một lực đẩy chứ đừng là lực cản trong hành trình đi lên của đất nước...

Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải đã vượt lên giới hạn của buổi tiệc tất niên thông thường khi năm hết tết đến của một gia đình để trở thành cuộc gặp gỡ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Đó là cuộc gặp gỡ cần thiết của các thế hệ, của những trải nghiệm sống, những kinh nghiệm thành công cũng như thất bại trong quá khứ để có thêm bài học cần thiết cho hiện tại và tương lai. Tác phẩm này cứ vẫn tươi mới chừng nào con người không thôi thiện chí và khát vọng làm mới mình, làm mới cuộc đời.

NGUYỄN THỊ QUẤT
Theo VNQĐ

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Xuân Trường & Chiếc cằm nũng đôi

Tập thơ Chiếc cằm nũng đôi của nhà thơ Xuân Trường đã ra đời tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2013, sau lần thứ hai anh trở lại sinh sống nơi này. Nơi mà anh đã có một thời sinh viên sôi nổi cùng bạn bè trong những năm tháng đất nước còn chiến tranh chia cắt. Đây là tập thơ thứ năm qua hành trình thi ca của anh.
 Nhà thơ Xuân Trường

Tên của tập thơ cũng là đề tựa của một bài thơ trong tập này. Có lẽ một sáng heo may nào đó của Sài Gòn, Xuân Trường đã chầm chậm khuấy ly cà phê, rồi tia nhìn cứ theo tay mình mà thư thả tâm hồn. Chợt giữa hư ảo đã hiện ra những hình ảnh tinh khôi lộng lẫy của những người phụ nữ Việt nam, đẹp từ nhan sắc đến tâm hồn, đẹp từ kiên cường bất khuất, đẹp từ trung hậu đảm đang… Có lẽ tác giả không muốn đi lại trên con đường mòn quen thuộc từ ngàn xưa  là đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ thông qua những đôi bồng đảo nẫy lửa, những mắt biếc môi tình, những eo thon chân dài tóc mây, những nụ cười liêu trai v v…

Ở đây tác giả tiêu biểu cho người phụ nữ đẹp bằng đơn thuần một chiếc cằm nũng đôi, một chiếc cằm chẻ nâng lên gương mặt chữ điền nói lên sự phúc hậu, tính cương nghị và bản lĩnh lanh lợi tháo vát trong đời thường và nhiều khi đã trở thành những anh hùng dân tộc đánh đuổi ngoại xâm. Mà lịch sử dân tộc đã xuất hiện những tinh khôi như Bà Trưng, Bà Triệu, nữ tướng Bùi Thị Xuân, nữ tướng Nguyễn Thị Định, Công chúa Huyền Trân đã hy sinh nhan sắc và tình yêu của mình để nhận sính lễ của vua Chế Mân mở rộng bờ cõi nước Việt. Tác giả đã giới thiệu nhẹ nhàng với chúng ta: Thoáng gì trong mắt xa xăm / Câu thơ bối rối chiếc cằm nũng đôi. Qua ánh mắt để tìm đến chiếc cằm, rồi nâng lên vẻ đẹp cho người phụ nữ. Một hình tượng dơn giản mà đã trở thành điểm nhấn trong cách nhìn rất riêng của tác giả. Đối với Xuân Trường, người phụ nữ nói chung đôi khi có thể là hình ảnh của người mẹ, người chị, người em gái, những ân nhân, người yêu cho nên nhất cử nhất động tác giả chạm vào phụ nữ những từ ngữ nhẹ nhàng như cưng trứng, như hứng hoa là vậy.
               
Những người em trong thơ Xuân Trường đôi khi không cụ thể, có lúc gần gũi như nguyên mẫu, nhưng cũng có lúc là những địa danh, những miền đất anh đã qua và đã nuôi nấng anh qua những thăng trầm của cuộc sống: Những năm tháng xuân xanh ta đã gửi hết em rồi / Ngày trở lại thương cúc quỳ gom nắng / Đau đáu nỗi mình yên lặng nghe thương / Những con phố âm vang bước chân ngày cũ / Tháng ba nghiêng lạnh triền đồi…hoặc là: Tôi muốn ôm những con đường đủng đỉnh nhịp đời bình yên năm tháng / Mà tiếc thời trai trẻ đi qua / Những giấc mơ có hình con dốc trườn mình nỗi nhớ qua xưa / Mỏi mắt chờ nhau mùa không trở lại / Hành trình gõ nhịp hoan ca… (trong bài Em Pleiku).

Xuân Trường luôn luôn nhìn vẻ đẹp mong manh của người phụ nữ Việt nam gắn liền với những gian khó nhọc nhằn trong hành trình chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc chúng ta sẽ thấy hình ảnh người con gái Nam bộ qua Xuân Trường: Ngày xuân em mặc bà ba / Ngẩn ngơ quá khứ nhìn ra Sài gòn / Cà phê rụng giọt chon von / Sóng xô hư ảo mỏi mòn mắt thương / ... Mắt nguyên sơ cũng rã rời đam mê / Thị thành cảm xúc chân quê / Gió cười bỏ ngõ thả lề xẽ cao ... rồi anh kết luận: ở đâu trong khắp người ta / Bà ba vẫn mãi thật thà em tôi / Lục bình hò hẹn sông trôi / Bà ba khoác nhớ một thời chiến chinh (trong bài Em Mặc Bà Ba).

Ngược về lịch sử xa xưa tác giả đã gặp người con gái khung vàng thước ngọc, đã quên tình riêng , con đò nhan sắc đã cập bến nước Chiêm mà mở cõi cho đất nước quê hương: Giếng vuông xưa/ cả khung trời / Soi thời gian gặp nụ cười Huyền Trân /Đất lành sánh lễ Chế Mân / Nắng mưa Ô – Lý cho gần chồng xa / Nữ nhi mở cõi sơn hà / Ca dao quang gánh nấng na nỗi lòng / Thoáng gì trong cõi rêu phong / Dấu chân Hoàng Hậu hồng trong tháp Hời (trong bài Mấy Nỗi Đồ Bàn)Rồi một lần lang thang rượu với bạn bè nơi Tháp Bánh Ít ở An Nhơn-Bình Định, trong cơn say lại bềnh bồng gặp người con gái ngàn xưa: Bâng khuâng chưa hiểu nổi vì sao ? / Một trang tuyệt nữ bước ra chào / Nhà ngươi lạc bước từ đâu đến ? / Mặt đỏ mà hồn sao xanh xao / Dạ thưa say quá rươu Bàu Đá / Cố về lại lạc bước vào xưa / Có gì mạo phạm xin tha thứ / Xin hỏi người đâu mà tuyệt vời? ...   Hãy về nói với thế hệ ngươi / Xưa đổi ngàn vàng ta lấy đất / nay lo gìn giữ chớ ăn dần... Ta là Công Chúa Huyền Trân đây / Đã cõi ngàn thu với đất này / Lòng vẫn cong theo hình Tổ Quốc / Vòng tay Hải đảo mấy ngàn đời (trong bài Uống Rượu Gặp Người Xưa).
Bìa tập thơ Chiếc cằm nũng đôi của Xuân Trường

Hình ảnh của những người phụ nữ các Má phong trào ngày xưa luôn luôn đau đáu trong Xuân Trường một thời để nhớ: Ngày áo sinh viên trắng cổng trường Đại học / Đêm xuống đường tất bật tuổi đôi mươi/ Chiều nay đi có thể sáng mai không về lại / Nhà trọ áo cơm lại đợi bóng người / Ba mẹ chẳng biết đi đâu / Người yêu cũng thẩn thờ tìm kiếm / Chỉ các Má phong trào là biết rõ / Hãy kiên cường khi bị tra tấn các con ơi…(trong bài Các Má Phong Trào). Đâu đây Xuân Trường còn mường tượng một người Chị, từng yên phận với chồng con, lặn lội một thân cò, đi qua chiến tranh, giờ gặp lại thấp thoáng hoàng hôn trong veo trong đôi mắt Chị:  Gió tiếc hương xưa bay qua vườn cũ / Nhặt thời con gái Chị tôi / Mưa nắng chưa hề phai tóc mật / Mà xuân thì hẹn ước lắm gian truân / Thời gian dừng lại trên đôi má / Nét buồn vui nấn ná dấu chân chim…/ Giờ trở lại Đại Hồng bước chân lên mùa hạ / Ve gọi chiều cho điệp khúc Chị tôi (trong bài Chị Tôi). Hình ảnh người mẹ luôn luôn xuất hiện trong tâm trí Xuân Trường suốt cả một hành trình lưu lạc tha phương, cơm góp quê người: Con xa nhà chứ đâu phải nhà xa con / Mỗi tết nôn nao muốn về đến lạ / Sài Gòn - thưa phố - người ta / Năm nay tàu xe chen lấn quá / Lại bão lũ miền trung làm nghèo tết quê nhà / Đêm dằn lòng cay mắt nhớ mẹ xa… (trong bài Thưa Mẹ Mùa Xuân).

Nếu ta đồng cảm với Xuân Trường quan niệm tình yêu theo nghĩa rộng thì đây - Chiếc Cằm Nũng Đôi - là một tập tình ca trọn vẹn cho đất nước, quê hương, bạn bè và con người, trong đó có dư âm xưa của tình yêu đôi lứa mà người đọc có thể đồng cảm vì trong đó có nỗi riêng mình. Chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng những địa danh đã từng nuôi nấng Xuân Trường trong từng giai đoạn của cuộc tha phương lưu lạc. Bắt đầu từ miền đất Quảng nam nơi đã quẫy đạp sinh anh ra trên gian khó đất thổ, đất nà: Cảm ơn một bữa trưa mỳ Quảng / Rưng rưng cay mắt nhớ quê nhà / Hương vị sao bềnh bồng nỗi nhớ / Mà lòng đau đáu một thời xa… (trong bài Mỳ Quảng Nhớ Quê) hoặc là: Quế Sơn trong con như trỗi thành phép lạ / nâng lên từng bước con đi / như đất trời nâng cánh cò chiều chao gió hoàng hôn quê mình mẹ ạ… (trong bài Nhớ Quế Sơn).

Một Quy Nhơn với 7 năm anh đã lớn lên trong tuổi học trò với biết bao kỷ niệm thân thương, bạn bè trìu mến, những rung động tình yêu đầu đời trong veo tuổi thanh tân đã trở thành ký ức khó quên, mà bây giờ cái thành phố núp sau cái vịnh hình vòng cung ấy cứ miên man trong anh như đang còn xanh ngát tuổi đôi mươi: Tôi lại về lên núi ngắm Tháp Đôi / Vẫn còn đó đôi cầu cứ song song nỗi nhớ / Ngày xưa nào hối hả phía Chợ Dinh / Đếm cả nắng mưa dọc đường lên Tuy Phước /Mà bây giờ chưa nhớ nổi tuổi Quy Nhơn / Chỉ thấy thời gian khuyết xuống dỗi hờn… (trong  bài Tôi Lại Về Quy Nhơn). Một Sài Gòn mặc cho anh chiếc áo sinh viên đầu tiên vào năm 1967, với bao thăng trầm đã mở ra cho anh một bước ngoặc cuộc đời: Rạch mây bão cho rạng ngời quang sáng / Chẳng lựu đạn nào cay nổi mắt sinh viên… (trong bài Các Má Phong Trào).

Một Pleiku với trời lạnh sương mù, với bụi hồng đất đỏ, với mây kết bạc núi chụm đầu thủ thỉ, quanh năm mùa đông, nắng cúc quỳ vàng lạnh lưng đồi luôn gợi nỗi nhớ xa xôi. Anh đã dừng chân và hình như chọn nơi này làm quê hương thứ hai từ 1972 cho đến hết 38 năm sau, một thời gian đã quá nữa đời người với biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn, với bao nhiêu thăng trầm cơm áo, được mất lòng người… Miền đất này đã trở thành máu thịt trong anh, ký ức luôn luôn thức giấc trong anh khi xa vùng đất mến yêu này: Ngày tôi đi măt hồ quanh co khói sương như muốn khóc / Thông chụm đầu thủ thỉ nói lời xa / … Em có biết bây giờ tôi đang nghĩ gì không/ Mắt nhớ mùa xưa trên cầu Hội Phú / Thương tôi đang nóng bỏng cuộc hành trình…/ Còn biết bao điều tôi muốn nói cùng em / Thôi xin gửi lại vào tiếng chuông ngân lễ hội / Cho cúc quỳ vàng mãi phía tôi xa…/ Thời gian đã phết vào tôi màu đất đỏ / Bao lối đi về trơn trợt tuổi trung niên / Dấu vết nhà xưa chỉ còn trong ngả ba Hai Bà Trưng – Nguyễn Trường Tộ / Nơi các con tôi đã tập đứng lên / Nơi các con tôi đã cất tiếng khóc đầu đời / Hơn bốn mươi năm vẫn thơm mùi con nít/ Với hương vị áo cơm sáng sáng chiều chiều…/ Còn đâu Hoa Quỳnh Trâm nở đêm giáo đường Thánh lễ / và tiếng chuông chùa leo dốc Chợ Thần phong… (trong bài Pleiku Ngày Tôi Xa). Ai đoc đoạn thơ này mà không se lại lòng mình và thấy có mình trong đó nó tạo một điểm nhấn trong hành trình xa quê lưu lạc, Xuân Trường đã nói thay cho bao nhiêu tấm lòng cùng thân phận và cảnh ngộ trong hành trình cơm áo cho đời. Pleiku – Gia Lai đã trở thành một phần máu thịt của mình, nơi tập trung những người xa quê lập nghiệp, từ những tháng năm còn chiến tranh Pleiku luôn kín đáo dưới sương mù, trời gần và mưa lạnh quanh năm cho đến những tháng năm đổi mới, phát triển và mở rộng thành phố Pleiku vẫn luôn luôn chung thủy, lòng người mở rộng với nhau, trở thành tình thân như người đồng hương vậy. Có lẽ vị sư gần gũi ấy mà Xuân Trường đã cảm nhận miền đất này như một người em gái: … Tôi muốn hít đầy lồng ngục để ngày mai / Hơi thở có em thơm mùi tóc núi / Trời chiều thấp phía sương sa / Đêm đong đưa những hoa đèn móc võng chong ta / … Khuya nay tôi đi rồi tàn cây im bóng, mắt phố buồn ngơ ngác phía sau lưng / Lưu luyến em phía bên ngoài giấc ngủ / Nuốt vào lòng bịn rịn để mai kia
               
Những miền đất Xuân Trường đã đi qua, anh luôn luôn để lại những tình cảm chân thành và sâu sắc. Một An Nhơn - Bình Định, miền đất của huyền tích kinh xưa, những thăng trầm hưng phế cũng là nơi “Cửa khổng sân trình” tất cả đã lắng vào Xuân Trường: … Chút rượu võ cũng chợt thèm môi văn / Ngọn nồm ngược bên My Lăng / nấn na nỗi nhớ đẩm trăng Cổ thành / Gối đầu lên tháng năm xanh / Nâng ly cố quận độc hành Nhạn Sơn /Tiếng gì lắng giữa An Nhơn / Phải chăng thành quách dỗi hờn thời gian (trong bài Huyền Tích Kinh Kỳ). Một lần với Vĩnh Long cũng đã để lại trong anh những da diết của lòng mình:  Thèm Vĩnh Long tôi cắn miếng bưởi năm roi / Rồi yên lặng nghe ngọt lừ nỗi nhớ / Và mây trưa chợt cầm nắng Sông Tiền…/ Rót đi em cho đầy ly viễn xứ / Đêm nghiêng trời say khướt với Vũng Liêm / Lắng nghe dòng lịch sử chảy qua tim… (trong bài Một Lần Với Vĩnh Long). Một Hà Nội với hành trình ngàn năm thăng trầm nay duyên dáng một thàng phố đang phát triển về mọi mặt: Rực rỡ màu đèn ngược đêm qua đáy nước / nên Hà Nội  lung linh huyền ảo đến dịu kỳ / những bông pháo tỏa hoa trời thăm thẳm / cho ngàn năm thương nhớ hội về đây …/ Những tà áo dài dìu đêm qua Cầu Thê Húc / Mắt hành trình thiếu nữ trong veo… (trong bài đêm Hà Nội).

Hầu như mỗi miền đất Xuân Trường đã đi qua anh đều để lại những yêu thương trìu mến và trở thành những chủ đề sáng tác cho thơ anh. Có những người con gái trong thơ anh đẹp ngang tầm với một mùa thu: Và đêm nay ta trẻ cùng Phan Thiết / Mai già thêm năn tháng với Sài Gòn / ơ hờ mây giờ heo may phía biển / Những con đường thao thức nỗi chia xa/ Cảm ơn em mùa thu Phan Thiết / Tự kiếp nao từ cõi nhớ dắt nhau ra (trong bài mùa Thu Phan Thiết). Những yêu thương dù nguyên mẫu hay hoan ca anh đều lưu lại với lời lẻ nhẹ nhàng, tinh tế, không trách móc giận hờn: Nụ cười nghiêng mát phía tôi / Ai quăng con sóng bồi hồi sang em /…/ Aó em mỏng mảnh cồn cào / Trái tim chấm lững lối vào vì đâu (trong bài Trưa ở Cù Lao An Bình) hoặc là: Thẩn thờ mỏi mắt đếm mưa / Yêu thương giờ sóng âm thừa xô môi /…/Quanh co cũng tại dốc này / Dấu yêu mưa nắng tháng ngày rong rêu / Hôm về nghe gió dói theo / Nước mây còn đợi bên dèo Pren.

Tình yêu lứa đôi vốn là đề tài muôn thuở của hai nữa nhân loại, còn nhân loại còn yêu đương, biết bao nhiêu ngôn từ, bao nhiều nhà thơ đã mê say với cài mênh mông vô hạn này mà vẫn chưa tìm ra một định nghĩa nào cho yêu đương… Xuân Trường cũng đã phiêu linh, lưu lạc vào đây: Vắng em chiều tím vu vơ / Mênh mông cánh sáo ầu ơ bay vù (trong bài Âù ơ Cánh Sáo) hoặc là: Lòng nghe xao xuyến gần xa / Những câu vụng dại đều là trong veo / Nay về qua lại vòm me / Nỗi xưa bật khóc nắng hè hư vô/… /Bây giờ biết tìm ở đâu / Cùng nhau trên mặt địa cầu …mà xa (trong bài Trong Veo). Và đây chừng như là một nguyên mẫu của Xuân Trường: … Từ dạo tin em lên Đà Lạt / Chung chiêng cánh nhớ trĩu vai gầy / Tôi tìm ngày cũ qua Đa Thiện / Cắn trái hồng tươi để ngậm ngùi / Sương quen ngày lạ mùa thưa nắng / Đơn hành gót mỏi đến bâng khuâng… (trong bài Đà Lạt Xưa) hoặc là: Tựa chiều đếm giọt tình rơi / Nhòa lên phố núi khoảng trời khong em / Dư âm cuồn dại môi mềm / Ngược lời gian dỡ bắt đền ai đây? (trong bài Khoảng Trời Không Em).

Xuân Trường như muốn vượt ra khỏi truyền thống bằng những ngôn từ mới lạ, những câu thơ tự do đẹp, những hình tượng mới mà nhẹ nhàng bóng bẩy dễ lưu lại trong lòng người đọc lâu dài. Chiếc Cằm Nũng Đôi của Xuân Trường là một ân tình không chỉ riêng đối với người đẹp mà còn là một ân tình đối với đất nước, quê hương, đối với cuộc sống đang tìm mọi cách vươn lên sau những bão tố hãi hùng.

VŨ HẠNH
Theo NVTPHCM

ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:



Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

Huỳnh Thuý Kiều - Đánh thức miền cổ tích

“Nếu Kiều Mây mở ra một không gian ấm áp thơ ngơ ngác để Giấu anh vào cỏ xanh hững hờ khép lại những ô cửa vọng tình bịn rịn thì Ru giấc phù sa là thời gian đồng hiện những cảm niệm đa chiều về sự trải nghiệm và dư nghiệm của tác giả…”

Hồi đó tôi biên tập mảng văn học cho Báo Cà Mau nên có mối quan hệ gần gũi với Huỳnh Thuý Kiều là điều tất yếu (thêm phần nữa là ở Cà Mau thời điểm đó, người trẻ “lỡ dan díu” với văn chương cũng rất ít). Chị viết khỏe, nhanh, dễ nhớ vì cái kiểu “làm thơ hổng giống ai” và bút danh rất đặc trưng: Hoa Đồng Nội. Chủ đề chủ yếu xoay quanh về tình yêu (từ yêu một người đến yêu quê hương) nhưng cái tứ, cái từ, cách gieo vần rất lạ. Vì vốn hiểu biết, vốn văn chương và cả vốn sống của tôi còn mỏng nên chưa đủ sự tinh tế để thấu cảm hết vẻ đẹp của thơ chị. Đó cũng là nguyên do chính khi tác phẩm đầu tay “Kiều Mây” (NXB Văn học năm 2008) ra đời và đạt giải thưởng của UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam dành cho tác giả trẻ, tôi chỉ lẳng lặng đọc mà không có hồi đáp nào.
Nhà thơ Huỳnh Thuý Kiều

Dù xét ở góc độ nào, thích hoặc không thích cũng phải thừa nhận rằng chị đã rất thành công khi tạo ra dấu ấn riêng về một “bản sắc Huỳnh Thúy Kiều”. Thơ của chị xuất hiện rộng rãi trên nhiều tạp chí, báo của cả nước với tất cả “dấu ấn Nam bộ”. Đọc qua một lần là nhớ liền, lần sau có che tên tác giả cũng biết đó là sáng tác của chị. Thế nên lần hồi, đến năm 2010 tôi viết bài giới thiệu về tập “Giấu anh vào cỏ xanh” (NXB Văn học năm 2010) bởi chính giọng thơ trong trẻo, da diết ấy thuyết phục và gây ấn tượng.

Thế rồi vì nhiều lý do, trong đó có cả nỗi buồn riêng mà chị ngừng sáng tác. Nhiều người thân và yêu mến chị không khỏi lo lắng. Và rồi với sự mạnh mẽ vượt qua cú sốc cá nhân, năm 2017 đánh dấu sự trở lại của chị với thơ ca như một sự hồi sinh với năng lượng mới, sức sống mới.

Nguồn thi hứng dào dạt, bất tận, nhiều thể thơ, các niêm luật được chị thử sức đầy cảm hứng và tiếp tục ra mắt “Ru giấc phù sa” (NXB Phương Đông, năm 2017). Tập thơ với 39 bài thơ trải dài cảm xúc khắp mọi miền đất nước như: “Tự khúc Cửu Long kính gởi sông Hồng”, “Thức với Trà Vinh”, “Đưa cha về thăm nghĩa trang Trường Sơn”, “Sài Gòn Sài Gòn”, “Tùy hứng đèo Ngang”, “Lỗi hẹn với Hương Giang”… Viết lời cho tập thơ, nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch nhận xét khái quát về con đường thơ ca chị đã trải qua: “Nếu Kiều Mây mở ra một không gian ấm áp thơ ngơ ngác để Giấu anh vào cỏ xanh hững hờ khép lại những ô cửa vọng tình bịn rịn thì Ru giấc phù sa là thời gian đồng hiện những cảm niệm đa chiều về sự trải nghiệm và dư nghiệm của tác giả”.
Tập thơ Ru giấc phù sa của Huỳnh Thúy Kiều

Vẫn là những hình ảnh quen thuộc của dòng sông, bến nước, con đường, cánh cò, đồng lúa, phù sa, tiếng gà, ánh lửa, làn khói lam chiều, đêm, nắng, gió… nhưng nó không còn là cảm xúc trữ tình riêng của tác giả mà đã được nâng lên thành cảm xúc chung. Những tên đất, tên làng và các địa danh cũng được chị nhắc đến như những gì quen thuộc, gần gũi và thân thương. “Phương Nam/Những gương mặt hiền như đất/Những phù sa vạm vỡ đồng bằng/Những mùa bội thu thơm lừng hương nếp/Niềm vui nở trên những luống cày cha sốt ruột chờ mưa” (Ru giấc phù sa). Những từ, ngữ thuần Nam bộ được chị đưa vào thơ dễ dàng như “nhặt chữ trong túi” như: “Bấu chặt”, “chảy lênh bênh”, “toòng ten bêu giữa đồng”, “chòng chành”, “đỏ hỏn”, “len lén”, “lắt lay”,“vừng nhật nguyệt”, “bặt tiếng”, “bung ra”, “hoang hoải”, “kêu giòn”, “ngúng nguẩy tắm”, “chẻ đêm”, “gồ ghề”, “xõa tán”, “vốc ngụm bùn”, “thắc thỏm”, “thậm thượt”, “loạng choạng”, “réo”, “lều bều”, “dập dềnh”, “chếch choáng”…

Ngôn từ trong thơ chị bình dị mà không hề dân dã: “Sẽ thành kỷ vật những củ co, trái bình bát, trái ô môi, đọt choại xanh, đọt ráng” hay “Mùa lăn theo ngọn chướng”(Dư âm). Chị biết làm mới từ ngữ, hình ảnh, tứ thơ tạo nên những câu thơ đầy ám ảnh, những hình ảnh độc đáo như: “Hà Nội một chiều…/Câu vọng cổ cõng dáng áo bà ba” (Tự khúc Cửu Long kính gởi sông Hồng), “Phù sa di cư theo những đêm trắng không màu/Nhuộm đỏ đồng bằng qua ký ức nhớ thương rất đơn sơ giản dị” (Cửu Long)… Dễ dàng bắt gặp những câu thơ giàu hình tượng, gây ám ảnh: “Đợi gà gáy sang canh mới thấu hết tính nhẫn nại của đồng bằng” hay “Những dòng phù sa cứ quặn thương trầm nhớ/Vỡ câu hẹn chín dòng qua cánh võng đưa nôi”; “Chín ngả rẽ/Trôi hướng nào cũng bắt đầu từ thượng nguồn mẹ Mêkông đang ầm ầm bừng thức/Khát vọng đồng bằng ru giấc phù sa” (Ru giấc phù sa) … Đúng như Tiến sĩ Vương Cường đã nhận xét: “Cảm xúc trong trẻo, tràn đầy; ngôn ngữ thơ phiêu bồng và giàu tính ẩn dụ, vẫn giữ được cái thanh cao, đằm thắm… Không gian thơ được mở rộng, kết nối mọi miền quê bằng tình cảm chân thành và sôi nổi như tình yêu ban đầu của chị với vùng đồng bằng châu thổ…

Cả tập thơ vẫn giữ nguyên chất giọng ngọt ngào, sâu lắng, nhẹ nhàng, man mác, dạt dào tình quê như chính chị tự nhận xét về mình: “Em mãi hồn nhiên bằng câu thơ viết về nơi sinh ra thắm gừng cây muối mặn”. Thế nhưng trong “Ru giấc phù sa”, tôi ngạc nhiên khi bắt gặp rất nhiều bài thơ đầy chất phóng khoáng, mạnh mẽ ẩn giấu sau những xúc động khi chị viết về cha mẹ: “Mẻ cá kho dậy mùi hương đồng giữa mùa thất bát/Canh rau tập tàng chan nước mắt lưng cơm/Ổ rơm vàng con gà đẻ lứa trứng đầu tiên/Nghe tiếng ấp iu thiêng liêng tình mẫu tử/Dòng sông chảy xuôi/Mái chèo khua nhịp lở/Biệt phương nào cũng muốn quay về khóc dưới cội quê hương” (Mái tranh quê)

Trong tập thơ, vẫn bắt gặp những bài thơ ngắn nhưng đầy cảm hứng và văn phong đầy nội lực của một bản trường ca về miền châu thổ: “Con cúi thắt bằng rơm từ tay cha đốt lửa/Cánh đồng giải lao sau mùa vụ uống nắng trở mình/Bài học đầu tiên mẹ dạy tôi bằng ca dao tục ngữ/Những cù lao xanh mầm yêu thương vắt dọc ngang châu thổ/Vầng trăng soi đồng bằng/Đêm/Bừng giấc triệu mùa say”, hay “Bàn chân cha đen nhẻm váng phèn/Vác cuốc tiễn tôi ra tận lũy tre cuối làng trong niềm hân hoan thắp đầy hy vọng/Bấu chặt bến quê tôi thả cánh diều vươn cao bay bổng/Châu thổ!/Bình minh thức dậy theo tiếng cười sót lại bên con chữ cuối mùa trăng” (Về một vầng trăng).

Năm 2018, chị tiếp tục thực hiện một dự định ra tập thơ mới với tên gọi “Đánh thức sông Hồng”. Tôi biết, với số lượng thơ hiện tại đủ sức để “ra lò” cùng lúc với “Ru giấc phù sa”. Thế nhưng, dù với thơ chỉ là “bày tỏ, chia sẻ nỗi lòng” chị cũng làm việc rất nghiêm túc, say mê và tận tâm nên còn chờ những tác phẩm ưng ý nhất để tập hợp lại trong tập thơ mới sắp tới.

Với nội lực hiện tại, thật không quá khi có nhiều lời khen tặng rằng chị đang là nhà thơ nữ đặc sắc nhất đồng bằng sông Cửu Long. Bằng tất cả sự hồn hậu khi đến với thơ ca, trái tim rung cảm đầy mãnh liệt với xứ sở, Huỳnh Thúy Kiều đã đánh thức một miền cổ tích đẹp như tranh vẽ về miền Tây rạo rực những yêu thương. Và chính chị đang tiếp tục đánh thức một miền cổ tích trong chính tâm hồn của mình để dâng tặng “Cho miền đất yêu thương”: “Hạnh phúc nào hơn khi ta ôm trong tim mảnh đất/Cho thăng hoa khúc nhạc dậy lòng…”.

ĐOÀN PHƯƠNG NAM
Nguồn: NVTPHCM

__________
Tên bài lấy ý từ câu thơ “Cầm tay giăng những ao đìa, lau lách, những ngọn nguồn/Như mắc võng lên miền cổ tích” (Khúc ru xưa)

 ĐỌC THÊM VĂN CHƯƠNG PHƯƠNG NAM:




BÀI ĐĂNG MỚI NHẤT

Nguyễn Phan Quế Mai: Hãy nói về cuộc đời

Xe vút đi trên những con đường cao tốc, còn tôi thì ngồi đó, lặng người trong giai điệu trầm bổng của Khúc Thụy Du. Mùa hạ California nở bun...